Lời Chúa Hôm Nay Thứ Hai, 15/6/2026
Ngày kính Ngày 21 tháng 09

Chứng nhân đức tin

Thánh Tôma TRẦN VĂN THIỆN

Thánh Tôma TRẦN VĂN THIỆN, Chủng sinh (1820 – 1838) Tuổi trẻ hào hùng. Trong một phiên tòa năm 1836, viên quan án xúc động trước người tù trẻ tuổi với dáng dấp thư sinh nho nhã, khuôn mặt khôi ngô tuấn...

Chủng sinh 1820 - 1838 Xử giảo
Chức vụ Chủng sinh
Năm sinh - tử đạo 1820 - 1838
Ngày kính Ngày 21 tháng 09
Nơi tử đạo ở làng Nhan Biều gần Quảng Trị
Cách tử đạo Xử giảo

Tiểu sử

Thánh Tôma TRẦN VĂN THIỆN, Chủng sinh (1820 – 1838)
Tuổi trẻ hào hùng.
Trong một phiên tòa năm 1836, viên quan án xúc động trước người tù trẻ
tuổi với dáng dấp thư sinh nho nhã, khuôn mặt khôi ngô tuấn tú, hứa hẹn một
tương lai xán lạn. Ông nói với anh thật dịu dàng:
- Nếu con bỏ đạo, ta sẽ gả con gái cho, và sẽ lo liệu cho con làm quan.
Chàng thanh niên trẻ tuổi ấy, anh Tôma Trần Văn Thiện đã thẳng thắn trả
lời:
- Tôi chỉ mong chức quyền trên trời, chứ không màng chi danh vọng trần
thế.
Tuy mới 18 xuân xanh, lứa tuổi yêu đời ham sống, chưa nếm mùi khổ đau
cuộc đời, cũng chưa được học tập thâm sâu về giáo lý, anh Tôma Thiện mới vừa
tới ngưỡng cửa chủng viện, đã ứng phó khéo léo trước bạo lực, đâu thua kém gì
bất cứ chiến sĩ đức tin nào khác trên hoàn cầu. Quả thực, anh đã thấu hiểu lời
Đức Kitô: “Được lời lãi cả về thế gian mà mất linh hồn thì có ích gì.” (Mt 16, 26)
Con muốn “ở chú” với cha không?
“Chú Thiện” như người đương thời quen gọi các chủng sinh, sinh năm 1820
trong một gia đình đạo hạnh làng Trung Quán, tỉnh Quảng Bình. Nữ tu
Madalena Yến, một nhân chứng sống cùng thời thuật lại: “Chú Thiện có một
người dì, gọi là dì Nghị, làm bà Nhất nhà phước Trung Quán. Chú thường lui tới

thăm dì và tỏ ra rất ngoan ngoãn, nhu mì, lễ phép. Khi linh mục đến dâng lễ ở họ
nhà, chú quỳ dự lễ cách nghiêm trang. Lên tám, chín tuổi, chú bắt đầu học chữ
Nho, tỏ ra thông minh bền chí và tiến bộ rất nhanh.”
“Có lần chú theo dì Nghị đi lễ ở họ Mỹ Lương, sau lễ vào chào các linh mục.
Các cha thấy cậu bé khôi ngô, hiền lành đều hỏi: “Con có muốn ở chú (đi tu) với
cha không?” Cậu Tôma Thiện không thưa gì. Nhưng chỉ ít lâu sau, người ta thấy
chú thường xuyên ở nhà cha Chính, họ Kẻ Sen. Vị linh mục này đã dạy tiếng
Latinh cho chú nhiều năm...”
Hãy nhìn xem máu tôi chảy ra kìa.
Nhờ tính tình tốt lành và trí thông minh, năm 18 tuổi (1838), chú Thiện
được cha giám đốc Candalh Kim gọi về chủng viện Di Loan, Quảng Trị. Nhận
được tin, chú Thiện cùng với chị tên Sao hăng hái lên đường. Dọc đường hai chị
em gặp nữ tu Yến từ Di Loan về cho biết cha bề trên Candalh đã phải trốn và
quân lính đang lùng bắt, rồi khuyên hai chị em đừng đi nữa, nhưng chú Thiện tỏ
ra cương quyết:
- Dầu không gặp cha Bề trên, con cũng phải đến tận nơi để biết rõ sự thể.
Cha đã gọi, không lẽ chưa đến nơi đã bỏ về.
Tới chủng vịên, hai chị em trình diện với cha Tự. Ngài nói:
- Chúng tôi lo trốn chưa xong mà chị còn dẫn em đến, chỉ làm khó khăn cho
chúng tôi thôi.
Chị Sao đáp:
- Thưa cha, em con nhờ con dẫn đi, vì có giấy cha Bề trên gọi. Chúng con
không biết cuộc bắt đạo lại xảy ra bất ngờ như thế.
Hai ngày sau, quân lính bao vây làng Di Loan, lục soát từng nhà. Không tìm
thấy cha Kim, vì ngài đã trốn lên rừng, họ bắt một số giáo dân, trong đó có chú
Thiện giải về Quảng Trị. Quan tỉnh Quảng Trị nghe nói chú Thiện là chủng sinh

của cha Kim, nên truyền tra hỏi cặn kẽ để biết cha Bề trên trốn ở đâu. Quan
khuyên chú chối đạo, nếu không sẽ bị chết. Chú Thiện thành thật trả lời:
- Tôi quê ở Trung Quán, Quảng Bình, đến tìm thầy học đạo. Đạo dạy tôi thờ
Thiên Chúa là đạo thật, tôi sẵn sàng chịu chết chứ không bỏ đạo.
Quan tỏ ra khoan nhượng khuyến dụ chú Thiện nhiều lần: nào là tuổi còn
nhỏ, tương lai còn nhiều triển vọng, nào là sẽ thăng quan tiến chức nếu bỏ đạo.
Hơn thế nữa, quan còn muốn chú làm con rể mình, và sẽ đứng ra lo liệu cưới xin.
Nhưng chú Thiện đã từ chối:
- Tôi chỉ mong chức quyền trên trời, chứ không màng đến quyền chức trần
thế.
Lời khẳng định ấy không phải ai cũng thốt lên được. Trong số những người
bị bắt, nhiều người tỏ ra luyến tiếc cho chú đã bỏ lỡ một “cơ hội ngàn vàng”.
Chàng trai có vóc dáng thư sinh nhưng chí khí thật kiên cường, khiến quan phải
ngạc nhiên, từ ngạc nhiên đến tức giận, vì dám xúc phạm đến sự “bao dung” và
lòng “ưu ái” của mình, thế là ông truyền đánh đòn chàng. 40 roi đòn quất trên
thân thể gầy yếu, máu chảy thấm qua y phục, nhưng vị chứng nhân không lay
chuyển, vẫn gan dạ mỉm cười nói: “Hãy nhìn xem máu tôi chảy ra kìa”. Thấy chú
can đảm hơn người, quan truyền đóng gông xiềng, giam chú Thiện vào ngục.
Trong ngục thất, Tôma Thiện không có bà con thân thích nào đến thăm
nom tiếp tế. Các giáo hữu Di Loan cũng bị bắt, lúc đầu còn chia sẻ cho chú đôi
chút lương thực, nhưng sau họ không cho gì nữa. Họ đã nghe quan dụ dỗ để
mong trở về với gia đình. Tuy thế quan vẫn chưa thả họ ngay. Vì muốn chú
Thiện cũng phải khuất phục, quan dùng những kẻ nhẹ dạ này gây áp lực, nhưng
Tôma Thiện trước sau vẫn một mực trung thành với đức tin.
Chú Thiện tiếp tục bị thẩm vấn và bị đánh đòn hai lần nữa, nhưng chú vẫn
vui vẻ lãnh nhận. Mỗi lần roi quất xuống, chú lại cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin
thêm sức cho con chịu đau khổ vì Chúa”. Ngoài ra chú còn bị phơi nắng và bị

kìm kẹp, nhưng vị anh hùng trẻ tuổi vẫn không sờn lòng, chứng tỏ một nghị lực
phi thường và một đức tin hiếm có.
Đồng khổ, đồng vinh.
Sau khi bất lực trước ý chí sắt đá của Tôma Thiện, quan truyền giam chú
chung với cha Jaccard Phan. Hai cha con gặp nhau vui mừng hết sức. Chú Thiện
được cha an ủi, khích lệ và ban bí tích hòa giải. Riêng cha Phan thì sung sướng
hãnh diện có một người con tinh thần dũng cảm trong đức tin. Hai cha con cùng
nhau cầu nguyện, nâng đỡ trợ giúp lẫn nhau và quyết chí trung thành với đạo
đến cùng.
Trước tinh thần bất khuất của hai chứng nhân Chúa Kitô, quan quyết định
lên án xử trảm cả hai. Bản án chú Thiện như sau: “Tên Thiện bị mê hoặc theo
đạo Gia Tô, dầu bị tra tấn cũng không bỏ đạo, nên nó phải chết giống như đạo
trưởng của nó”.
Bản án gởi về kinh đô. Gần một tháng sau vua Minh Mạng mới châu phê và
đổi thành xử giảo. Có lúc nóng lòng chờ đợi, chú Thiện thưa với cha Phan: “Thưa
cha, người ta cứ để cha con ta sống lâu mãi, sao không sớm cho cha con ta được
tử đạo, để được kết hiệp cùng Chúa muôn đời”. Chú cũng viết thư về gia đình
vĩnh biệt cha mẹ, họ hàng, và khuyên mọi người trung thành giữ vững đức tin.
Sáng ngày 21.9.1838, hai cha con chứng nhân Chúa Kitô cùng được dẫn ra
pháp trường ở làng Nhan Biều gần Quảng Trị. Khi đi qua một quán ăn, viên đội
chỉ huy cho hai vị dừng chân, ăn uống theo thói quen dành cho tử tội. Cha Phan
không dùng gì cả, chú Thiện thưa với cha: “Con cũng không ăn, để về dự tiệc
Thiên đường vĩnh phúc, phải không cha?” Tới nơi xử, chú Tôma Thiện quỳ
xuống trước mặt cha, lính tháo gông, tròng dây vào cổ. Lệnh xử ban hành, họ
kéo hai đầu dây thật mạnh, đầu vị tử đạo 18 xuân xanh gục xuống. Sau đó, đến
lượt cha Phan cũng bị xử như vậy.
Khác với các cuộc tử đạo trước, cuộc hành quyết này không có giáo hữu đi

theo để xin an táng. Những người ngoại đã chôn cất hai vị ngay ở pháp trường.
Năm 1847 thi hài hai vị tử đạo được cải táng và tôn vinh tại chủng viện Hội
Thừa Sai Paris.
Ngày 27.5.1900 Đức Giáo Hoàng Lêo XIII đã suy tôn chủng sinh Tôma Trần
Văn Thiện lên bậc Chân Phước.

Tháng 10