Lời Chúa Hôm Nay Thứ Hai, 15/6/2026
Ngày kính Ngày 12 tháng 07

Chứng nhân đức tin

Thánh Ignatiô DELGADO Y

Thánh Ignatiô DELGADO Y, Giám mục dòng Đaminh (1762 – 1838) Chiến sĩ truyền giáo. Với gần nửa thế kỷ hăng say trong việc truyền giáo tại Việt Nam và 43 năm giám mục, cuộc đời thánh Ignatiô Y gắn liền với...

Giám mục dòng Đaminh 1762 - 1838 Xử trảm
Chức vụ Giám mục dòng Đaminh
Năm sinh - tử đạo 1762 - 1838
Ngày kính Ngày 12 tháng 07
Nơi tử đạo Bảy Mẫu
Cách tử đạo Xử trảm

Tiểu sử

Thánh Ignatiô DELGADO Y, Giám mục dòng Đaminh (1762 – 1838)
Chiến sĩ truyền giáo.
Với gần nửa thế kỷ hăng say trong việc truyền giáo tại Việt Nam và 43 năm
giám mục, cuộc đời thánh Ignatiô Y gắn liền với địa phận Đông Đàng Ngoài, nay
là 5 địa phận: Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh, Lạng Sơn và Thái Bình. Hoạt động
của ngài trải dài trên 3 triều đại: thời Cảnh Thịnh với những khó khăn từng khu
vực giúp ngài nhận định được nhu cầu, để đến thời Gia Long, ngài phát triển địa
phận Đông tới mức cực thịnh, đủ sức đương đầu với những cơn giông tố bách hại
thời Minh Mạng, và đó cũng là mùa gặt phong phú “các Thánh Tử Đạo” của địa
phận. Số linh mục bản xứ, số tu sĩ nam nữ, số giáo dân tăng nhanh mỗi năm đã là
những chứng cớ hùng hồn nhất cho chúng ta thấy nhiệt tình và tài lãnh đạo của
ngài.
Ý Chúa nhiệm mầu.
Ignatiô Delgado sinh ngày 23.11.1762 tại làng Villafeliche, tỉnh Saragozza,
miền Aragon, Tây Ban Nha. Từ thời niên thiếu, Delgado chịu ảnh hưởng nhiều
của các nữ tu Xitô. Say mê đọc sách, cậu nghiền ngẫm tối ngày những chuyện

tích của những dì, hơn nữa khu làng của cậu từ núi đồi đồng cỏ, đất đai đến cây
rừng đều ghi dấu những nữ tu áo trắng, con cái thánh Bernađô này. Đo đó, cậu
đã nuôi chí dấn thân phục vụ Chúa trong đan viện.
Thế nhưng Chúa lại an bài cách khác. Ngày kia, một người bạn có ý định đi
tu dòng Đaminh rủ cậu cùng đi, Delgado liền nhận lời. Sau đó cả hai đến gõ cửa
tu vịên thánh Phêrô Tử Đạo ở Catalayud, thuộc tỉnh dòng Aragon. Cậu vào nhà
tập khi 18 tuổi và khấn năm 1781. Đang khi theo học tại đại học Orihuela,
Delgado được biết việc truyền giáo của dòng tại Đông Nam Á. Trong thư ngày
25.06.1780, cha chính Alonsô Phê ở Việt Nam báo cáo số người và công việc, đã
xin gởi thêm nhiều nhà truyền giáo “nhân đức, thông thái và can đảm”. Delgado
thấy lòng mình sôi sục ý muốn đi truyền giáo. Năm 1785, sau khi bàn hỏi với
các bề trên, Delgado xin chuyển qua tỉnh dòng Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi
và được gửi tới Manila Phi Luật Tân để tiếp tục học tập.
Vị Giám Mục trẻ trung.
Năm 1787, thầy Delgado được thụ phong linh mục. Năm sau, trong số 15 tu
sĩ tình nguyện đến Việt Nam, bề trên chọn Delgado và một người nữa. Thế
nhưng nước Việt khi đó đang có nội chiến, nên hai vị thừa sai phải lưu lạc hết
Macao đến Mlacco rồi trở về Macao. Cuối cùng năm 1790, cha mới đến đất
truyền giáo cùng với 3 thừa sai khác, trong đó có cha Henares Minh. Tuy mới tới
Việt Nam, nhưng mọi người đã nghe đồn về tài năng và nhân đức của cha
Delgado khi còn ở Manila, nên đã quý mến cha cách đặc biệt. Sau vài tháng học
tiếng, cha được cử coi sóc chủng viện hai năm. Làm cha Chính địa phận hai năm,
kiêm chức đại diện coi sóc các cha dòng Đaminh. Sự khôn ngoan và nhân đức
của cha được xác định khi Đức cha Alonso Phê đệ trình lên Tòa Thánh xin đặt
cha làm Giám mục phó có quyền kế vị. Đức Piô VI đã chính thức công nhận
trong đoản sắc ngày 11.02.1794, nhưng mãi tháng 9 năm sau nghi lễ tấn phong

mới được cử hành trong niềm vui của toàn địa phận. Vị tân Giám mục khi đó
mới 33 tuổi.
Các sử gia ghi nhận Đức cha Ignatiô Y đã thích ứng được với miền truyền
giáo ngay từ những ngày đầu, từ khí hậu, ngôn ngữ đến phong tục và những món
ăn địa phương. Bốn năm coi chủng viện và làm cha Chính, giúp ngài hiểu biết rõ
về tình hình địa phận cũng như các giáo sĩ. Giờ đây với chức vụ mới, ngài là vị
cộng tác đắc lực và hữu hiệu của Đức cha Alonsô Phê trong việc quản trị và
truyền giáo. Tháng 08,1798, khi vua Cảnh Thịnh ra sắc chỉ cấm đạo, triệt hạ các
nhà thờ, bắt bớ các thừa sai linh mục và thầy giảng, ép buộc các tín hữu bỏ đạo,
Đức cha Delgado Y liền viết thư luân lưu cho các giáo sĩ thu cất các đồ thờ, nếu
phải ẩn trốn thì cũng đừng đi quá xa, để có thể tiếp tục gặp gỡ phục vụ các tín
hữu. Đặc biệt, Đức cha tin tưởng vào sức mạnh từ Trời cao khi kêu gọi các tín
hữu ăn chay những ngày thứ tư và đọc kinh Cầu Các Thánh hàng ngày cầu xin
ơn bình an.
Trong báo cáo gửi về cho tỉnh dòng mẹ, Đức cha viết: “...
Các giáo sĩ phải ẩn
trong hầm hố, trong rừng sâu hay trên đồng vắng nhưng vẫn lén lút cải trang về thăm
các giáo hữu.

Riêng hai vị Giám mục vẫn tiếp tục đi thăm viếng hết xứ này đến xứ khác
trong địa phận. Một hôm, Đức cha Phê đi kinh lý tại khu vực trấn kinh Bắc (Bắc
Ninh) thì bị sốt rét và qua đời tại Lai Ổn ngày 02.02.1799, trút hết gánh nặng địa
phận cho Đức cha Y. Trong bài giảng lễ tang, Đức cha Y nhắc lại mẫu gương và
lời kinh vị tiền nhiệm thường đọc là: “Lạy Chúa, xin hãy nung đốt con, cưa cắt
con, đừng dung tha con ở đời này, để con được thứ tha muôn đời.” Đức cha Y đã
tiếp nối truyền thống và mẫu gương đó, suốt đời chấp nhận gian khổ và không
quản ngại khó khăn để phục vụ Chúa trong tha nhân.
Khôn ngoan và can đảm.
Công việc Đức cha quan tâm nhất là đến thăm tất cả các họ đạo dù đường xá

xa xôi trắc trở đến đâu. Từ đầu năm 1803, công tác này được san sẻ cho vị tân
Giám mục phó Henares Minh (thụ phong ngày 09.01.1803) Lúc đó đường xá
miền Bắc không được như bây giờ, hai vị Giám mục đã phải đi hàng ngàn cây số
đường mòn, bờ đê, phải xuyên rừng leo núi... thế mà không họ lẻ nhỏ nhất nào
không được các vị đến thăm nhiều lần. Tại mỗi nơi, các ngài đưa ra những chỉ
thị cụ thể, sửa lại những lạm dụng, trừ diệt những thói dị đoan và xóa bỏ tệ nạn
cho vay nặng lãi.
Suốt thời đại Gia Long và những năm đầu thời Minh Mạng, tuy còn một vài
vụ bắt bớ ở địa phương, nhưng nói chung đây là thời tương đối bình an nhất.
Đức cha Y đã tận dụng giai đoạn này để tổ chức địa phận vững chắc hơn. Ngài
quan tâm nhiều đến việc đào tạo linh mục bản xứ, củng cố chủng viện, nhất là
tại Ninh Cường, Lục Thủy, Tiên Chu và Ngọc Đồng. Số linh mục chỉ mười năm
sau đã tăng gấp đôi (năm 1810 có 54 linh mục Âu và Việt). Là thành phần dòng
Đaminh, Đức cha được sự hỗ trợ tích cực của tỉnh dòng mẹ về nhân sự trong địa
phận. Thế nhưng chủ yếu ngài đào tạo linh mục triều, rồi sau khi đã làm linh
mục, nếu ai muốn, mới chuyển qua dòng. Ngoài 16 cha dòng Việt cũ, thời Đức
cha có thêm 66 cha dòng người Việt, hỗ trợ cho công tác mục vụ và truyền giáo,
sát cánh với các linh mục triều.
Suốt 20 năm thái bình, các tín hữu được tự do tham dự kinh lễ mỗi ngày, nên
được học hỏi về giáo lý kỹ lưỡng hơn và sống đạo tốt hơn. Nhiều nơi tổ chức
những nghi thức công khai và long trọng, lôi cuốn các anh em lương dân đến dự,
rồi tìm hiểu và bỏ được nhiều thành kiến nghi kỵ với đạo. Thí dụ trước đây họ
thường trách người có đạo là bỏ cha mẹ tổ tiên, nay mới hiểu được trong đạo có
những nghi lễ chôn cất, giỗ chạp cũng trang nghiêm và đầy ý nghĩa. Dần dần số
người xin theo đạo ngày càng đông. Chỉ trong 10 năm có hơn 10.000 người lớn
xin rửa tội. Con số 114.000 tín hữu khi Đức cha Y nhận quyền địa phận đã tăng
lên 160.000 vào năm 1815, với gần 800 họ đạo. (Sử Ký địa Phận Trung, tr. 58.)

Ý thức trách nhiệm mình đối với tiền nhân, Đức cha cho ủy nhiệm một số
người và đích thân điều hành việc nghiên cứu cuộc đời sự nghiệp hai linh mục tử
đạo tại Hà Nội năm 1733 là cha Castaneda Gia và Vinh Sơn Liêm. Năm 1818,
Đức cha hoàn tất hồ sơ xin phong thánh và gởi về Rôma.
Những năm đầu thời Minh Mạng, ôn dịch hoành hành khắp nơi, có tỉnh
chết hàng ngàn người, kinh tế kiệt quệ, mọi người khiếp sợ, lương dân cũng như
giáo hữu chạy vào nhà thờ xin nước thánh, nhà vua không dám ra khỏi cung
điện. Tiếp đến là mất mùa, hạn hán và đói khổ... Nhân cơ hội này, Đức cha Y cổ
động các thừa sai và tín hữu thể hiện lòng bác ái, săn sóc các bệnh nhân, cứu trợ
người túng thiếu... khiến mọi người kính nể.
Giông tố mở màn...
Những chiếu chỉ cấm đạo 1825 và 1833 không được thi hành triệt để ở địa
phận Đông Đàng Ngoài, các quan có thiện cảm với đạo, lại phò Lê hơn phò
Nguyễn, nên báo cáo với vua cho có hình thức. Bất ngờ ngày 17.04.1838, thầy
Vũ Văn Lân, thầy giảng của cha Viên về tòa Giám mục lãnh dầu thánh, mang
theo sáu lá thư (cho hai Đức cha, hai linh mục thừa sai và hai linh mục người
Việt), bị phát hiện và bị bắt. Tổng đốc Trịnh Quang Khanh hí hửng đưa sáu lá
thư về khoe với vua. Tuần phủ Hưng Yên liền bị cách chức, Trịnh Quang Khanh
bị triệu về kinh khiển trách. Tướng Lê Văn Đức dẫn thêm hai ngàn lính kinh đô
ra hỗ trợ việc bắt đạo, bão tố bắt đầu bừng lên trên miền đất Nam Định. Nhiều
biệt phái được phái đi len lỏi khắp nơi. Hai chủng viện Ninh Cường, Lục Thủy
và nhiều nhà chung, nhà phước tự dỡ xuống để tránh sự dòm ngó. Các chủng
sinh phải giải tán, các nữ tu phải trở về gia đình, giáo hữu phải tự tìm chỗ ẩn. Hai
Đức cha và hai thừa sai đến náu thân tại làng Kiên Lao.
Con đường Thập Giá...
Kiên Lao là một làng lớn, nguyên số tín hữu cũng lên đến 5.000 người. Các
kỳ mục trong xứ thu xếp cho hai Đức cha và hai thừa sai ở bốn nhà khác nhau.

Gần chỗ Đức cha Ignatiô Y trốn có thầy đồ Hy, các kỳ mục cẩn thận đến điều
đình xin ông tạm dời chỗ dạy học. Thấy lạ, thầy đồ gạn hỏi các học sinh và biết
được có người Âu Châu núp, liền đi báo với các quan. Ngày 27.05.1838, khoảng
200 lính đến bao vây làng Kiên Lao dưới sự chỉ huy của quan Lê Văn Thế. Họ
kiểm tra qua loa rồi bỏ đi. Các thừa sai tưởng yên ổn, nên sinh hoạt bình thường.
Không ngờ ngay sáng hôm sau, quân lính trở lại và bao vây đúng những nhà các
ngài đang ẩn.
Cha Jimenô Lâm và cha Hermosilla Vọng nhanh chân trà trộn vào đám đông
chạy thoát. Đức cha Henares Minh được đưa đi trốn ở nhà khác (một tuần sau
mới bị bắt). Còn Đức cha Y đã 76 tuổi, được anh em tín hữu khiêng đi trên võng
bị lính nhận ra, đuổi theo và bắt tại chỗ. Họ trói Đức cha nằm trong võng và
cáng về đình làng, vừa đi vừa reo hò mừng rỡ, quên cả việc bắt các thừa sai còn
lại.
Viên quan hỏi Đức cha:
- Ông từ đâu đến?
Ngài đáp:
- Tôi ở nơi khác mới đến làng này, họ chẳng liên hệ gì đến tôi.
Quan nói:
- Ông đã bị bắt, ông có thể tự vẫn như những người dũng cảm thường làm.
Đức cha trả lời:
- Chúng tôi không được tự vẫn, vì đó là trọng tội. Nhưng nếu vì đạo, quan
truyền giết tôi thì tôi hết sức vui mừng.
Chiều đến, Đức cha được đưa về phủ Xuân Tường. Đêm đó quan Lê Văn Thế
truyền nhốt Đức cha vào một cũi gỗ, bốn phía có các hàng song như cũi giam
thú dữ, các song gỗ được đóng liền sát với nhau, không thể thò tay ra ngoài. Trên
nóc, ông cho trổ một cửa nhỏ để đưa cơm nước cho tù nhân. Chiếc cũi thấp tè,

khiến người bị giam không thể nào đứng thẳng được, đó sẽ là căn nhà của Đức
cha từ nay cho đến chết.
Về phần Tổng đốc Trịnh Quang Khanh, khi nghe tin, liền gởi 100 lính đến
hỗ trợ, áp giải từ phủ về tỉnh Nam Định 11giờ trưa ngày 30.05. Tất cả các quan
tỉnh cùng 2.000 lính đón chờ “con mồi vĩ đại” mới bắt được. Cờ xí rợp trời, trống
cái trống con, chiêng la vang dội... Thế là họ đã vô tình đón rước người anh hùng
đức tin với nghi thức một quân vương (!). Còn vị anh hùng, ngài quỳ gối cầu
nguyện trong cũi, tay không rời cuốn sách vẫn đem theo từ lúc bị bắt, có lẽ là
cuốn sách nguyện.
Không thể kể cho xiết những nỗi khốn cực Đức cha phải chịu suốt 43 ngày
bị giam trong cũi. Ăn uống thì thiếu thốn, rồi những buổi tra hỏi, những lời sỉ
nhục chửi bới, có người nhổ nước miếng vào mặt. Sau những buổi hỏi cung,
quân lính khiêng cũi ra bỏ ở cửa Tây của thành. Mình ngài lúc nào cũng nhễ
nhại mồ hôi dưới sức nóng mặt trời hoặc lạnh cóng vì sương đêm lạnh lẽo. Thế
nhưng, ngoài những lời khai về lý lịch bản thân, Đức cha không tiết lộ một người
hay một vùng nào liên hệ.
Thỉnh thoảng Đức cha lại nói với quan và lính rằng: “Các ngài chưa biết về
đạo Chúa Giêsu, nếu các ngài biết, hẳn các ngài sẽ theo đạo.”
Ngày 14.06, Trịnh Quang Khanh gửi bản án vào hoàng cung, nhưng vua
Minh Mạng không châu phê, vị vua muốn vị thừa sai nhận tội “làm mật thám”.
Dĩ nhiên ngài không thể nhận điều vu cáo ấy được. Một hôm ngài nói với quan:
“Tôi ở An Nam đã 48 năm, tôi có giấy tờ của Tiên đế (Gia Long) cho phép giảng
đạo. Xin quan cứ dẫn tôi về triều đình, nếu vua muốn nướng thịt tôi mà ăn tôi
cũng chịu... Xin đừng để lâu kẻo quân lính phải canh coi vất vả làm gì.”
Dẫn đến vinh quang.
Án xử lần thứ hai gửi vào kinh được vua châu phê ngay, nhưng bản án chưa
kịp về tới Nam Định thì Đức cha đáng kính đã từ trần. Với tuổi già 76, cộng với

sức yếu vì bệnh tật, một tháng rưỡi trong cũi đã làm Đức cha kiệt lực và an nghỉ
trong Chúa ngày 12.07.1838, sau 43 năm làm Giám mục. Quân lính thấm dầu
vào vải, quấn quanh ngón chân, đốt thử xem chết thật chưa, rồi báo cho quan
Tổng đốc hay. Quan quyết định: “Cứ thi hành mọi sự như án đã đề ra, để mọi
người biết tội y nặng nề dường nào.”
Quân lính liền khiêng cũi Đức cha ra pháp trường Bảy Mẫu, đưa thi thể ra
ngoài, rồi chém đầu trước sự hiện diện của quan giám sát và một vài tín hữu. Thi
hài của vị tử đạo được các tín hữu đem về an táng tại bàn thờ một thánh đường
đã bị phá hủy ở Bùi Chu. Thủ cấp Đức cha bị treo nơi công cộng ba ngày, rồi
ném xuống sông Vị Hoàng. Hơn ba tháng sau một người đánh cá vớt được, đưa
về an táng chung với thi hài của ngài.
Ngày 27.05.1900 Đức Lêo XIII suy tôn vị Giám mục dòng Thuyết giáo
Ignatiô Y lên bậc Chân Phước.