Chứng nhân đức tin
Thánh Đaminh HENARES MINH (XUÂN)
Henares Minh, hai anh em “sinh đôi” như một số người quen gọi, cùng mang những thao thức như nhau, cùng được đào tạo một nơi, cùng đến đất Việt một ngày... Từ nay, luôn tâm đầu ý hợp, cùng nhau đưa...
Tiểu sử
Henares Minh, hai anh em “sinh đôi” như một số người quen gọi, cùng mang
những thao thức như nhau, cùng được đào tạo một nơi, cùng đến đất Việt một
ngày... Từ nay, luôn tâm đầu ý hợp, cùng nhau đưa địa phận đến giai đoạn cực
thịnh. Hai vị chia nhau đến thăm từng họ đạo nhỏ nhất. Đức cha Minh với tinh
thần phục vụ cao, thường chọn cho mình những họ đạo xa hơn, thuộc trấn Kinh
Bắc, nơi rừng sâu nước độc mà trước đó ít năm, Đức cha Phê đã bỏ mạng vì bệnh
sốt rét rừng.
Linh mục Hermosilla Vọng đã viết về Đức cha Minh như sau:
“
Ngài là một thủ lãnh thanh khiết trong đời sống, là vị mục tử nhiệt tâm không hề
mỏi mệt vì ơn cứu độ các linh hồn và là đấng khao khát mãnh liệt phúc tử đạo. Ngài
sẵn sàng lên đường bất cứ lúc nào trách vụ đòi hỏi, dù đang nửa đêm khuya vắng.
Ngài có lòng đạo đức trổi vượt, biểu lộ qua việc cầu nguyện không ngừng, đồng thời
siêng năng nghiên cứu các giáo phụ. Ngài sống nghèo khó Tin Mừng thật sự, và như
một người cha hiền dịu, ngài quảng đại với người xấu số nhất. Đó là những nhân đức
chính mà ngài luôn nêu gương.
”
Với lòng khiêm tốn, bác ái, Đức cha Minh nhiệm nhặt với mình, nhưng lại
rộng lượng với mọi người. Tuy bận rộn với bao công việc của địa phận, ngài vẫn
tự may vá lấy y phục của mình, vẫn cố gắng sửa lại những quần áo cũ để phân
phát cho người nghèo. Nhờ biết chút ít về nghề thuốc, Đức cha là ân nhân của
nhiều bệnh tật. Đi đâu ngài cũng mang theo một hộp nhỏ đựng thuốc phát cho
các bệnh nhân. Đôi khi ngài chữa được những bệnh nan y, mọi người đều cho là
họ được khỏi do lời cầu nguyện và chúc lành hơn là nhờ thuốc.
Nếu giờ chưa đến...
Chính tráp đựng thuốc bác ái đó một lần kia đã cứu ngài thoát chết. Khi ngài
đang ở họ Thượng Hộ thuộc Sơn Nam Hạ thì bị một nhóm cướp bắt cóc để tống
tiền. Giữa đêm chúng lén vào nhà, bắt và dẫn Đức cha vào rừng. Bỗng tên cướp
ôm chiếc tráp vấp ngã, những chai lọ đổ lỏng chỏng ra ngoài, một vài dụng cụ
kim loại lấp lánh trong đêm, khiến chúng tưởng là vàng bạc xô lại tranh giành,
Đức cha liền nhanh chân náu mình trong một bụi cây rậm rạp gần đó. Đám cướp
sục sạo một lát thì trời tảng sáng và nghe dân làng đánh kẻng báo động đi tìm
Đức cha, họ ùa nhau bỏ chạy.
Theo ý Tổng trấn Hà Nội Nguyễn Văn Thành, ông muốn tổ chức một buổi
trao đổi công khai về tôn giáo. Đức cha Minh cùng với Đức cha Longer Gia địa
phận Tây Đàng Ngoài nhận lời và đưa ra đề tài: “Không ai được bắt ép người
Công Giáo làm việc dị đoan.” Nhưng sau vì Tổng trấn không chấp nhận đề tài
đó, nên cuộc trao đổi phải bãi bỏ. Đức cha Minh thấy vậy nhận định rằng: “Bao
lâu còn thiếu ánh sáng bởi trời thì dù lý luận mấy cũng vô ích.”
Khi vua Minh Mạng lên ngôi được vài năm, miền Bắc có nhiều cuộc khởi
nghĩa: Lê Duy Lương, Nùng Văn Vân... Ở Nam Định và Hải Dương có Phan Bá
Vành. Nói chung, dân Bắc Hà vẫn còn hoài nhớ triều Lê, chứ không ưa gì triều
Nguyễn. Chính Gia Long phải mượn cớ phò Lê để thống nhất cả nước. Lúc đó,
thế lực nhóm Phan Bá Vành ngày càng lớn, năm 1826, vua Minh Mạng phải cử
Lê Văn Duyệt và Nguyễn Công Trứ ra đánh dẹp. Quân của Vành thua rút vào
làng Trà Lũ, cầm cự được ba tháng mới bị bắt. Cuộc chiến thắng này có phần
đóng góp của hơn 300 giáo hữu. Thế nhưng vì trong số tù nhân cũng có những
người Công Giáo, họ khai là có biết Đức cha Minh và mười cha dòng người Việt,
khiến từ đó Đức cha bị ghi vào “sổ đen” của nhà vua.
Ngày 13.05.1827, Tổng đốc Nam Định thừa lệnh nhà vua đem 800 quân và
voi trận đến vây Trà Lũ bắt Đức cha, nhưng ngài đã kịp biết nên tránh đi nơi
khác. Dù rất mong mỏi được đổ máu làm chứng cho tình yêu Chúa, Đức cha
thường tâm sự rằng tử đạo là ơn phúc trọng đại, không ai tự tiện liều lĩnh ngoài
thánh ý Chúa. Tiếp theo đó là mười năm phục vụ, tuy có phần khó khăn âm
thầm hơn, nhưng nói chung địa phận Đông Đàng Ngoài vẫn tương đối được
bình an. Cho đến tháng 04.1838, vì phát hiện sáu lá thư của cha Viên gởi cho hai
giám mục và bốn linh mục, nhà vua biết có sự hiện diện của các ngài. Vua đã
khiển trách Tổng đốc Trịnh Quang Khanh nặng lời, và phái thêm 2.000 lính
kinh đô ra tăng viện, quyết lùng bắt hết các giáo sĩ. Đức cha Minh và thầy Chiểu
phải bỏ Tiên Chu đi ẩn tại Kiên Lao, gần chỗ Đức cha Y và hai vị thừa sai khác.
Ngày 28.05, khi Đức cha Y bị bắt, Đức cha Minh đang lánh thân trong nhà bà
Tư, giả bộ xay lúa. Mỗi khi quân lính đi ngang, bà Tư lấy nong che mặt cho ngài.
Bản án phải được sửa lại.
Tối hôm đó, Đức cha Minh bỏ nhà bà Tư đi sang làng Trung Thành, rồi làng
Quần Anh và Xương Điền. Khi thấy quân triều đình vẫn lảng vảng theo dõi, Đức
cha và thầy Chiểu xuống thuyền đi ngược ra biển. Một ngư phủ ngoại giáo nói
với tín hữu: “Coi chiếc thuyền ngược gió kia, tôi đoán là một thừa sai chạy trốn
cuộc bách hại mà chưa biết về đâu. Các bác tìm cách đưa ngài vào đây, tôi sẽ lo
liệu chỗ trọ và che giấu giùm cho.” Quá tin vào ông ta, các tín hữu ra mời ngài
trở lại, ai ngờ ông ta đi báo quan quân đến bắt Đức cha và thầy Chiểu tại nhà
mình.
Quan phủ Xuân Trường đối đãi với Đức cha khá lịch sử tử tế, nhưng vì sợ
nhà vua, ông đành phải đóng cũi và áp giải lên Nam Định ngày 11.06.1838. Tại
dinh Tổng đốc, có lúc hai chiếc cũi của ngài và của Đức cha Y được đặt gần nhau,
hai vị nói chuyện với nhau bằng tiếng Tây Ban Nha. Không rõ các vị nói những
gì, nhưng chắc chắn quả là niềm an ủi lớn lao, khi được chia sẻ với nhau những
tâm sự thầm kín. Gần nửa thế kỷ sát cánh bên nhau để phục vụ giáo phận, giờ
đây lại được sát cạnh gần bên nhau trên đường về Thiên Quốc. Mọi người thấy
rõ niềm vui lộ trên khuôn mặt của hai vị.
Khi quan tòa đòi Đức cha Minh phải ký vào bản án đã viết sẵn, ngài yêu cầu
cho nghe trước rồi mới ký. Vừa nghe đọc hai chữ “Tả đạo”, Đức cha cắt ngang:
“Xin quan sửa lại chữ đó thành đạo Đức Chúa Trời”. Quan đồng ý và sửa lại. Khi
đọc đến chữ “...lừa đảo ngu dân”, Đức cha lại lên tiếng: “Không đúng, chúng tôi
không lừa đảo ai, chúng tôi chỉ đến đây để giảng đạo chân chính.” Đức cha
không chịu ký cho đến khi quan đồng ý sửa bản văn lại. Ngày 12.06, bản án được
gửi về kinh đô, nhà vua châu phê và gởi trả lại Nam Định ngày 25.06. Đức cha
còn được một ngày để chuẩn bị tâm hồn lãnh phúc tử đạo.
Chứng tá cuối cùng.
Một số binh sĩ Công Giáo giữ đạo cách bí mật đã bỏ tiền ra xin được vinh dự
khiêng cũi Đức cha. Và trước khi khởi hành ra pháp trường, nhiều binh sĩ đã trót
nhát sợ đạp lên Thánh Giá đến quỳ khóc lóc trước cũi, xin Đức cha cầu nguyện
và tha thứ. Đức cha đã nhân ái an ủi họ và giúp họ thống hối đền tội. Trên đường
đến Bảy Mẫu, Đức cha Minh trong cũi với nét mặt hân hoan, miệng thầm thỉ
nguyện kinh và giơ tay ban phép lành cho các tín hữu đang khóc thương hai bên
đường. Thầy Chiểu mang gông đi phía sau. Cuối cùng là năm binh sĩ không chịu
bước qua Thánh Giá, trong đó có ba vị tử đạo sau này là Augustinô Huy, Nicolas
Thể và Đaminh Đinh Đạt. Nhưng hôm ấy đến nửa đường, cả năm binh sĩ đều
được đưa trở về ngục. (Xin xem thêm hạnh Thánh Huy, Thể và Đạt)
Tại pháp trường, Đức cha Minh muốn chứng kiến cái chết anh dũng trung
kiên của người môn đệ quý yêu: thầy Phanxicô Chiểu, Đức cha xin xử trảm thầy
trước. Viên quan đồng ý. Thế là quân lính xử chém và trao đầu thầy cho vị Giám
mục. Ngài trân trọng đón lấy, rồi ngửa mặt lên trời cầu nguyện trang nghiêm
như đang dâng lễ vật đẫm máu lên Thiên Chúa. Đến lượt mình, Đức cha nghiêng
đầu cho lý hình thi hành phận sự. Hôm đó là ngày 26.06.1838, Thiên Chúa đã
gọi Đức cha Henares Minh về trời lãnh nhành thiên tuế tử đạo, chấm dứt 73
năm trên dương thế với 48 năm phục vụ tại Việt Nam, 38 năm Giám mục.
Thi hài Đức cha được lý hình an táng ngay tại pháp trường, nửa tháng sau
các tín hữu cải về Lục Thủy. Đầu của ngài bị treo ở cổng thành ba ngày, rồi ném
xuống sông Vị Hoàng, vài ngày sau một dân chài Công Giáo may mắn vớt được,
các tín hữu đưa về táng chung với thi hài. Về sau khi ngưng bách hại, họ long
trọng đưa hài cốt Đức cha về tòa Giám mục Bùi Chu.
Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn Giám mục Henares Minh lên bậc Chân
Phước ngày 27.05.1900.