Chứng nhân đức tin
Thánh Phanxicô ĐỖ VĂN CHIỂU
Phanxicô Đỗ văn Chiểu sinh năm 1797 tại làng Trung Lễ, giáo xứ Liên Thủy, tỉnh Nam Định, thuộc địa phận Đông Đàng Ngoài. Cậu Chiểu đi tu từ hồi niên thiếu, và được đào tạo thành thầy giảng của địa phận.
Tiểu sử
Phanxicô Đỗ văn Chiểu sinh năm 1797 tại làng Trung Lễ, giáo xứ Liên Thủy,
tỉnh Nam Định, thuộc địa phận Đông Đàng Ngoài. Cậu Chiểu đi tu từ hồi niên
thiếu, và được đào tạo thành thầy giảng của địa phận. Trong thời gian bốn năm
học thần học, thầy Chiểu luôn sống đạo hạnh và có tinh thần kỷ luật cao, nên
được các vị hữu trách tín cẩn. Sau đó thầy gia nhập dòng ba Đaminh, và trở
thành cộng sự viên trung tín của Đức cha Henares Minh.
Bận tâm lớn nhất của thầy Chiểu là phần rỗi của mọi người. Lần kia, tại làng
Kiên Lao, một người lính đến gặp thầy ngỏ ý muốn được giúp xưng tội và rước lễ
để thêm can đảm trong cơn bách hại. Thầy đã tiếp chuyện với anh khá lâu,
khuyến khích anh trung thành với đức tin Kitô giáo cho đến chết. Hai người
cùng nhau cầu nguyện sốt sắng trước khi chia tay. Lần khác, khi nghe tin người
em bị bắt vì đạo, thầy xin cha Hiển dâng hai thánh lễ cầu cho người em được can
đảm chấp nhận mọi gian khổ để tuyên xưng đức tin.
Cùng chung số phận.
Từ năm 1838, Tổng đốc Nam Định Trịnh Quang Khanh quyết tâm lùng bắt
các vị thừa sai để lập công với vua Minh Mạng. Ông đã đem đến cho người Công
Giáo Đàng Ngoài muôn vàn khổ cực. Thầy Chiểu theo Đức cha Henares Minh
đến ẩn trốn tại làng Kiên Lao, một giáo xứ lớn tương đối an toàn.
Nhưng ngày 27.05.1838, do sự tố cáo của thầy đồ Hy, quan Tổng đốc đã cho
lính bao vây làng Kiên Lao. Quân lính bắt được Đức cha Delgado Y, còn Đức cha
Henares Minh và thầy Chiểu may mắn thoát nạn trong gang tấc, liền trốn ra bờ
sông đi thuyền về Hải Dương. Dọc đường hai cha con vào trốn tạm tại nhà ông
Nghiêm gần họ Hà Quang, xứ Trung Thành, sau qua làng Quần Anh và Xương
Điền. Một ngư phủ ngoại giáo nhận cho hai vị trú ngụ và hứa che giấu cẩn thận.
Ai ngờ, ngày 09.06.1838, chính người đó đi tố giác với quan, nên hai vị đã bị bắt.
Đức cha Henares Minh thì bị nhốt trong cũi, còn thầy Chiểu, quan bắt mang
gông nặng và tống giam vào ngục. Trong ngục, thầy tuyên bố: “Tôi sẵn sàng theo
Đức cha Đaminh cho đến chết, sẵn sàng chịu mọi cực khổ như ngài, kể cả cái
chết dữ tợn nhất.” Hai ngày sau, lính phủ Xuân Trường áp giải cả hai về tỉnh
Nam Định.
Khi tới cổng thành Nam Định, mặc dù cổ mang gông nặng, dù bị những
ngọn roi tàn bạo, thầy Chiểu cố cúi xuống cầm lấy Thánh Giá dưới đất hôn kính,
rồi chờ cho cũi của Đức cha Minh đi qua, thầy mới để Thánh Giá lại như cũ và
tiến vào thành.
Cực hình gian nan....
Tại dinh Tổng đốc, các quan tra hỏi thầy nhiều lần, lần nào thầy cũng tuyên
xưng đức tin một cách can đảm, không sợ sệt. Khi các quan bảo thầy bước qua
Thánh Giá thì sẽ được tha về, còn bất tuân sẽ bị xử tử, thầy Chiểu trả lời: “Đức
Chúa Trời là Chúa thật, là căn nguyên của mọi sự, người ta phải thờ lạy kính
mến Ngài. Vì thế, tôi không dám bước qua Thánh Giá, chắc chắn tôi không làm
điều đó.”
Dùng lời khuyên dụ không được, quan sai lính trói tay chân thầy vào cọc rồi
đánh 30 roi, nhưng thầy vẫn không nao núng. Quan truyền cho lính xích thầy và
tống giam vào ngục. Sau đó, các quan kết án như sau: “Tên Đỗ văn Chiểu đã đi
theo và học với tên Trùm Hai (tức Đức cha Henares Minh). Nó học những điều
giả dối. Nó ngoan cố và bất tuân lệnh vua cải tà qui chính. Mặc dù bị bắt giam, bị
tra tấn, nó vẫn nhất mực ngoan cố theo tả đạo Gia Tô. Vậy nay nó đáng chịu
trảm quyết.”
Các quan đệ trình bản án về kinh đô xin vua phê chuẩn. Trong 15 ngày bị
giam, thầy Chiểu đã trải qua nhiều thử thách, chịu đòn vọt, chịu đói khát... như
trong thư thầy viết gửi thầy Quỳnh ngày 21.06: “
Ở trong này tôi phải chịu nhiều
cực hình đau đớn, chịu đói khát, không có tiền mua cơm ăn. Tôi nhờ thầy gặp các cha
xin các ngài giúp đỡ tôi. Thầy xin lỗi mọi người giúp tôi nhé. Chắc chắn tôi sẽ được tử
đạo, vì nhờ ơn Chúa, tôi vẫn trung thành và bền đỗ với Ngài.
”
Trong khi đó, vua Minh Mạng phê án và gửi bản án về tới Nam Định ngày
25.06.1838. Ngay trong ngày cuối đời, thầy Chiểu còn phải đương đầu với
những lời dụ dỗ của các quan. Quân lính dẫn thầy ra công trường, quan đọc bản
án và hứa nếu đạp lên Thánh Giá, quan sẽ tha thầy ngay. Thầy Chiểu bình tĩnh
và mạnh dạn trả lời: “Khi quan lớn nằm nghỉ, quan có bằng lòng để cho người
con của quan đạp lên không? Phương chi Đức Chúa Trời là Chúa Trời đất, mọi
người phải kính thờ thì làm sao tôi bước qua ảnh của Người.” Trước lời khẳng
khái của thầy, quan nổi giận cho thầy là xấc láo. Có ông đòi xử tử ngay, ông khác
nói hãy để đến ngày mai vì đã quá muộn, chỉ nên cho lính đánh đòn rồi tống
ngục. Thế là quân lính ra tay đánh đập cho đến khi thầy ngất lịm với biết bao vết
bầm tím trên da thịt, mới khiêng thầy ném về ngục thất.
Giờ phút vinh quang.
Sáng hôm sau 26.06.1838, quân lính dẫn Đức cha Henares Minh và thầy
Chiểu tới pháp trường Bảy Mẫu, Nam Định. Tuy mang gông ở cổ, kèm thêm hai
sợi xích nặng nối từ gông xuống đến chân, thầy Chiểu bình tĩnh lê từng bước
như xưa Chúa Giêsu vác Thập Giá tiến lên Núi Sọ. Thấy nhiều tín hữu đi theo
khóc lóc, thầy nói với họ: “Anh chị em về nhà đi, đừng khóc nữa, thầy trò chúng
tôi hôm nay về Quê thật mà.” Tới nơi, lính mở cũi đưa Đức cha ra, và tháo gông
cho thầy Chiểu. Đức cha Minh xin chém thấy Chiểu trước, để được thấy tận măt
người con thiêng liêng của mình đã trung thành vì Chúa đến giây phút cuối
cùng. Viên quan chỉ huy chấp thuận. Thế là thầy Chiểu quỳ xuống trước mặt
Đức cha và lãnh bí tích giải tội. Xưng tội xong, thầy quỳ xuống cầu nguyện và
kêu tên Chúa Giêsu ba lần. Cũng như thánh Stêphanô xưa, thầy Chiểu thưa với
Chúa: “Lạy Chúa, con phó linh hồn con trong tay Ngài.”
Ngay sau đó, lý hình chém một nhát trúng vào xích nơi cổ thầy, họ phải
chém thêm ba nhát nữa thì đầu mới lìa khỏi cổ và linh hồn thầy về hưởng phúc
Thiên đàng, thọ 41 tuổi. Lý hình tung thủ cấp thầy lên ba lần cho các quan và
mọi người thấy rõ. Thế rồi một khung cảnh trào dâng xúc động: Đức cha Minh
đã cầm thủ cấp thầy và kính cẩn dâng lên Thiên Chúa như lễ vật hy hiến trước
khi Đức cha được phúc tử đạo. Giáo dân an táng thi thể thầy tại nơi pháp trường,
về sau di hài cốt về quê Trung Lễ.
Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn lên bậc Chân Phước thầy Phanxicô Đỗ
Văn Chiểu ngày 27.05.1900.