Chứng nhân đức tin
Thánh Phêrô NGUYỄN BÁ TUẦN
Thánh Phêrô NGUYỄN BÁ TUẦN, Linh mục (1766 – 1838) Nụ hôn của Giuđa. Được cha xứ Kim Sơn tin cậy gửi gắm hai linh mục, Bát Biên kín đáo giấu hai vị trong nhà.
Tiểu sử
Thánh Phêrô NGUYỄN BÁ TUẦN, Linh mục (1766 – 1838)
Nụ hôn của Giuđa.
Được cha xứ Kim Sơn tin cậy gửi gắm hai linh mục, Bát Biên kín đáo giấu hai
vị trong nhà. Một tuần sau, ông nói với hai cha: “Con nghe tin quan biết hai cha
ẩn ở đây và quan quân sắp đến vây làng. Con phải đem hai cha đi nơi khác an
toàn hơn.” Rồi Bát Biên mới linh mục thừa sai Fernandez Hiền xuống một chiếc
thuyền nhỏ chở đi. Lát sau lại vòng về đón cha Phêrô Tuần.
Xuống thuyền đi trốn, hai cha hoàn toàn tin lới Bát Biên, chẳng ngờ chút
nào sự săn sóc ân cần đó lại chính là “cái hôn của Giuđa”. Âm mưu bắt hai cha
của Bát Biên thành công thật êm thấm. Nhưng nụ hôn bao giờ mà chẳng nhẹ
nhàng êm ái! Và đằng sau nụ hôn đó, tù ngục, tra tấn, cái chết đang chờ đợi hai
cha.
Phêrô Nguyễn Bá Tuần chào đời năm 1766 tại làng Ngọc Đồng, tỉnh Hưng
Yên. Từ thuở nhỏ, cậu Tuần đã có tiếng là hiền lành, đạo đức, chăm chỉ học
hành. Lớn lên, cậu vào sống trong nhà Chúa. Tại đây, cậu siêng năng học giáo lý,
đồng thời học thêm chữ Hán. Thấy dấu chỉ có ơn kêu gọi, các linh mục giới thiệu
cậu vào chủng viện. Nhưng mới theo học tại trường Latinh ít lâu, vua Cảnh
Thịnh ra chiếu chỉ cấm đạo, thầy Phêrô phải nghỉ học và ẩn trốn nơi này nơi
khác cùng với cha Chính Hoan (Gatillepa). Thầy đã tỏ ra là một đệ tử đắc lực của
ngài. May mắn thay, một thời gian sau, trường được mở lại, thầy trở về tiếp tục
học hành và được lãnh chức linh mục năm 1807. Cha Tuần đã thi hành tác vụ
thánh tại nhiều nơi, thu hái nhiều kết quả, được các bề trên hài lòng suốt 30
năm.
Trả giá cho niềm tin.
Năm 1838, khi vua Minh Mạng ra chiếu chỉ cấm đạo gắt gao hơn thì cha
Tuần đang làm chánh xứ Lác Môn, tỉnh Nam Định. Cha không những chỉ lo chu
toàn trách vụ giáo xứ của mình, nhưng cha còn lưu tâm đến tình hình Giáo Hội
Việt Nam, lo đến các anh em linh mục. Nghe tin làng Quần Liêu sợ vạ lây,
không muốn chấp nhận cha Chính Fernandez Hiền bị bệnh kiết lỵ trầm trọng
đang chữa trị tại đây nữa, cha Tuần phải vội vàng đến can thiệp và ở lại để dân
chúng yên tâm giúp đỡ cha Chính. Không ngờ nghĩa cử yêu thương này đã kết
nối số phận đời cha với vị thừa sai Âu Châu.
Sau vài ngày, hai cha bỏ Quần Liêu trốn lên Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, thuộc
địa phận Tây Đàng Ngoài. Nhưng tại đây quan quân cũng đang tầm nã gắt gao,
các tín hữu bắt buộc phải giấu hai cha ngoài vùng sình lầy, suốt hai ngày nắng
sương gió rét. Khi đó, cha xứ Kim Sơn cho tìm một người ngoại đạo tên là Bát
Biên, người thọ ân ngài nhiều lần và gởi gắm tạm hai vị mục tử. Ở đây, trước khi
được làm chứng cho niềm tin vào Thiên Chúa, hai cha đã phải trả giá cho niềm
tin vào con người. Bát Biên trở mặt nộp hai linh mục cho quan Tổng đốc Nam
Định Trịnh Quang Khanh. Thế là hai cha bị đóng gông giam vào ngục.
Trong tù, vị linh mục già 72 tuổi, luôn can đảm trung thành với đức tin của
mình, dù thân thế già nua ốm yếu phải chịu gông cùm xiềng xích với biết bao
đòn vọt. Khi viên quan nói với cha:
- Lão già quá rồi, không chịu nổi các hình khổ đâu.
Cha Tuần trả lời:
- Quả thật tôi ốm yếu lại già nua, nhưng Thiên Chúa sẽ cho tôi sức mạnh để
đón nhận mọi cực hình và cả cái chết vì Ngài.
Lần khác, quan cho một tín hữu đã bỏ đạo ra đạp lên Thánh Giá và bảo cha
làm theo như vậy, cha liền nói: “Sao tôi lại phải bắt chước kẻ bội giáo? Mẫu
gương tôi soi là hai Đức cha của tôi, tôi muốn noi gương các đấng ấy.”
Rũ tù trong vinh phúc.
Pháp luật thời đó không cho phép xử chém người già trên 60 tuổi. Thế
nhưng, ngày 10.07.1838, vua Minh Mạng vẫn phê án xử trảm cha Tuần. Bản án
“vi hiến” đã không bao giờ thi hành được. Các hình khổ trong tù: tra tấn, đánh
đập, đói khát, nóng nực và muỗi rệp, cuối cùng cũng đã làm thay công việc của
lý hình. Trước đó ba ngày, cha Tuần đã hoàn tất cuộc đời làm chứng cho tình
yêu Thiên Chúa ngay trong nhà tù, tức ngày 15.07.1838.
Con đường tử đạo của cha không kết thúc đẫm máu, không có những bi kịch
thảm thương. Một con đường khá bình thường, được dệt nên bằng những việc
quen thuộc mà nhiều khác có thể từng gặp trong đời: một người anh em mắc
bệnh, một người phản bội vô tâm, đòn vọt, rệp muỗi... Nhưng “trên từng cây số”
con đường đó, cha đã đi thật đúng đắn, thật trung thành, thật trọn vẹn. Cha đã
tận tình lo cho người anh em gặp hoạn nạn. Cha đã hết sức tin vào con người, dù
có thể gặp kẻ phản bội. Cha đã sống trọn vẹn niềm tin của mình trong những
hoàn cảnh khó khăn, mới thoạt nhìn qua như có vẻ bình thường, nhưng vì dai
dẳng nên cái bình thường đó không kém phần gay go.
Lòng trung thành trong những “việc nhỏ” như thế, đáng được coi là trung
thành trong những “việc lớn”. Lòng trung thành đó đã đưa cha đến phúc tử đạo
dù không đổ máu. Cha được về quê trời ngày 15.07.1838 trong khi đã sẵn sàng
bước ra pháp trường lấy máu mình minh chứng niền tin. Giáo hữu rước thi hài
cha về an táng tại nhà thờ xứ Ngọc Đồng, sau đem vào Nam đặt tôn kính tại xứ
Lạc An, Biên Hòa.
Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn Chân Phước linh mục Phêrô Nguyễn Bá
Tuần ngày 27.05.1900.