Lời Chúa Hôm Nay Thứ Hai, 15/6/2026
Ngày kính Ngày 19 tháng 12

Chứng nhân đức tin

Thánh Stêphanô NGUYỄN VĂN VINH

Stêphanô Nguyễn Văn Vinh sinh năm 1813 tại làng Bồ Trang, tỉnh Thái Bình. Sống trong một gia đình ngoại giáo rất nghèo, một miếng đất cũng không có, anh Vinh quanh năm phải làm thuê làm mướn cho các gia đình...

Tá điền dòng ba Đaminh 1813 - 1839 Xử giảo
Chức vụ Tá điền dòng ba Đaminh
Năm sinh - tử đạo 1813 - 1839
Ngày kính Ngày 19 tháng 12
Nơi tử đạo Kinh Bắc
Cách tử đạo Xử giảo

Tiểu sử

Stêphanô Nguyễn Văn Vinh sinh năm 1813 tại làng Bồ Trang, tỉnh Thái
Bình. Sống trong một gia đình ngoại giáo rất nghèo, một miếng đất cũng không
có, anh Vinh quanh năm phải làm thuê làm mướn cho các gia đình ở Kẻ Mốt
(Bắc Ninh). Trường học duy nhất anh ham thích và theo được là các lớp giáo lý,
nơi anh tập đánh vần và học truyền khẩu. Đặc biệt anh đem các điều học ở đó ra
thực hành trong cuộc sống. Có điều là người ta không biết tại sao anh chưa được
rửa tội. Mọi người đều mến thương anh vì anh đơn sơ, chất phác, khỏe mạnh và
thật thà. Trong công việc, anh không bao giờ làm cho qua lần chiếu lệ, ai thuê
việc gì, anh cũng chu toàn tốt đẹp không cần kiểm soát, không có gì chê trách.
Cho đến khi bị bắt, anh vẫn sống độc thân chưa lập gia đình.
Ngày 29.06.1838, khi quan quân vây bắt cha Tự ở Kẻ Mốt, và bắt mọi người
phải đạp lên Thánh Giá, chàng thanh niên 25 tuổi này đã anh dũng nói thẳng với
họ rằng: “Tôi thà chết chứ không bao giờ đạp lên Thánh Giá, vì tôi biết đạo
Chúa Giêsu là đạo thật.”
Vì lời nói này, quan quân tưởng anh là người trong đạo, thế là họ bắt anh
Vinh và áp giải về trại giam Bắc Ninh chung với cha Tự, ông Trùm Cảnh, thầy
Úy, thầy Mậu và hai anh Mới, Đệ. Chính tại đây, anh Vinh được diễm phúc làm
người Kitô hữu, được hân hạnh là con Cha Thánh Đaminh. Suốt hành trình tử
đạo, anh là một nhân chứng trầm lặng nhưng cùng lập trường với các vị khác.
Gông cùm, xiềng xích và tra tấn không lần nào có thể làm anh sa ngã hay nản
chí. Chọn quan thầy Stêphanô trong tù, anh cương quyết noi theo vị tử đạo tiên
khởi của Giáo Hội đến hơi thở cuối cùng.
Lời an ủi ấm lòng...
Sau gần một tháng dọa nạt tra khảo bảy chiến sĩ đức tin nhưng vô hiệu, ngày
27.07.1838, quan tỉnh Bắc Ninh đệ án vào triều xin xử giảo cha Tự và ông trùm
Cảnh, còn năm vị kia quan cho là nhẹ dạ tin theo, nên xin đánh mỗi người 100
roi rồi phát lưu vào Bình Định. Luật vua thời đó xử giảo các phù thủy, đồng cốt,

còn những kẻ a dua chỉ bị đánh đòn và phát lưu 300 dặm. Thế nhưng vua Minh
Mạng cho rằng tội theo đạo Gia Tô thuộc loại nặng hơn, nên quyết định xử
chém hai vị trên ngay tức khắc, còn tất cả sẽ bị xử giảo sau một năm nếu không
chịu thay đổi ý kiến.
Ngày 05.09.1838, khi biết tin cha Phêrô Tự và ông Trùm Cảnh đã bị chém
tại pháp trường Kinh Bắc, năm vị trong ngục buồn bã nhớ thương. Thầy Mậu
kêu gọi anh em ngồi lại bên nhau cùng đọc kinh, vừa khích lệ nhau, vừa ôn lại
những lời khuyên của cha mình. Sau đó ba buổi tối, như chính các vị thuật lại,
trong lúc họ đang cầu nguyện thì tất cả đều thấy như cha Tự hiện ra ngay bên an
ủi họ: “Các con đừng buồn, chắc chắn các con sẽ được chết vì đạo. Tuy nhiên,
các con còn phải trải qua một thời gian thử thách nữa, để xứng đáng với phúc
trọng này.” Có thể đó chỉ là giấc mơ chứ không phải sự thật, đó cũng có thể là lời
nhắn nhủ cuối cùng của vị linh mục, nhưng kể từ ngày đó, họ hết buồn sầu, tìm
lại được can đảm để nêu gương ngay trong cảnh quẫn bách ở trong trại giam.
Tuyên khấn trong ngục tù.
Ấn tượng ghi nét sâu đậm vào lòng năm vị chứng nhân là khi cha Tự trong
ngày lãnh phúc tử đạo. Cha mặc áo dòng và nói với mọi người về chiếc áo đó.
Trước đây, bốn vị, đến khi vào tù có thêm anh Vinh, đã mặc áo dòng ba Đaminh,
nhưng chưa ai khấn cả. Thầy Mậu liền viết thư cho cha Huấn dòng Đaminh để
bày tỏ niềm ước nguyện được hiệp thông với dòng cách trọn vẹn. Thầy viết:

Chúng con tất cả là năm tập sinh của dòng ba nhưng chúng con không thể giữ chay
đủ các ngày thứ hai, thứ tư, sáu và bảy được, nên chúng con xin cha thương rộng phép
chuẩn chước cho sự thiếu sót đó. Qua thư này, chúng con xin tuyên khấn trọn đời. Vì
chúng con không thể đọc lời tuyên khấn trong tay cha được, nên bằng những dòng viết
này chúng con coi như thực sự tuyên khấn trước mặt cha vậy, xin cha cho phép.


Để tôn vinh và ngợi khen Thiên Chúa toàn năng, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa
Thánh Thần, chúng con là Phanxicô, Đaminh, Augustinô, Tôma và Stêphanô, trước

mặt cha Huân, đại diện cha Hermosilla, giám đốc dòng ba hãm mình Thánh Đaminh,
chúng con xin hứa và ước ao giữ lề luật và tập tục của dòng cho đến chết
”.
Những chữ “cho đến chết” trong ngục tù khi đó chắc hẳn phải có âm vang
đặc biệt đối với các vị. Được nối kết với truyền thống hơn 600 năm truyền giáo
của Thánh Phụ và một dòng tu lớn trong Giáo Hội, từ nay năm anh em tích cực
hơn với việc tông đồ. Dưới sự điều hành của thầy Mậu, năm hội viên dòng ba
chia nhau tiếp xúc gặp gỡ các bạn tù, giới thiệu với họ về Thiên Chúa, cắt nghĩa
giáo lý, rồi dẫn họ đến thầy Mậu lãnh nhận bí tích rửa tội. Ít ra các vị đã rửa tội
được 44 người. Ngục tù giờ đây đã trở thành nguyện đường, hàng ngày vang lên
những lời chúc tụng Thiên Chúa, lời cầu nguyện cho Giáo Hội và cho mọi người,
moị giới được đầy tràn ơn lành của Ngài.
Làm chứng trước quan quyền...
Thấm thoát hơn một năm tù đã trôi qua, triều đình quyết định lại việc xử
giảo cả năm người. Ngày 19.08.1839, quan cho điệu tất cả ra tòa, vẫn để Thánh
Giá một bên, bên kia là dụng cụ tra tấn. Quan hỏi:
- Các anh bị giam cầm đã lâu ngày, chịu khổ cũng đã nhiều, vậy bỏ đạo đi, ta
tha về với vợ con.
Thầy Mậu đại diện anh em trả lời:
- Chúng tôi đã quyết tâm trung thành với Chúa, nên quan ra lệnh chém đầu
hay giết cách nào khác, chúng tôi đều sẵn sàng.
Rồi cả năm vị quỳ xuống bái lạy Thánh Giá và cầu nguyện:
- Lạy Chúa! Xin cứu chúng con, con xin phó thác hồn con trong tay Chúa.
Thất vọng, quan cho lính đưa tất cả về ngục và thốt lên:
- Bọn này không thể tha thứ được, mà chúng có thèm được tha đâu!
Ngày 21.11, năm vị phải ra tòa một lần nữa. Quang cảnh vẫn như lần trước,
và các tôi tớ Chúa vẫn một mực cương quyết không chối đạo. Thầy Mậu thay
mặt anh em nói với quan:

- Chúng tôi chỉ tôn thờ một Thiên Chúa là Cha chung muôn loài, là vua trên
hết các vua, là Đấng chúng tôi mong được đổ máu ra để chứng tỏ lòng trung
thành và yêu mến.
Như nai rừng mong mỏi về nước suối trong...
Ngày 19.12.1839, trước khi đi xử, quan cho năm vị một cơ hội cuối cùng.
Ông nói: “Chỉ cần đi ngang qua phía chân tượng, ta cũng tha”. Sau đó, ông lại
nói: “Chỉ cần đi vòng quanh tượng ta cũng tha”. Nhưng các vị chứng nhân đức
tin không để bị mắc lừa, họ bảo nhau quỳ xuống đọc kinh Kính Danh Chúa
Giêsu. Có lẽ do ảnh hưởng những lời kinh Giáo Hội trong mùa Vọng, đón chờ
Chúa Giáng sinh, thầy Mậu nói với quan những lời kinh Thánh Vịnh 41 (c 1-2).
“Thưa quan, chúng tôi ước mong về với Chúa như nai mong tìm thấy suối vậy.
Xin quan cứ thi hành án lệnh của nhà vua”.
Biết không thể làm nao núng ý chí sắt đá của những con người này được nữa,
quan liền truyền đem đi xử với bản án như sau: “Bọn gian ác theo Gia Tô tả đạo,
mặc dầu đã khuyên răn sửa phạt, vẫn ngoan cố không chịu bước qua Thập Tự,
nay chúng bị xử giảo”.
Trên đường ra pháp trường, thầy Mậu rảo chân bước đi trước, các anh em
bước theo sau. Tất cả đều tỏ ra hân hoan kiên cường. Dân chúng hiếu kỳ xem rất
đông và xì xào với nhau là các vị này bị giết oan. Theo gương thầy Mậu, các
chứng nhân tươi cười nói với mọi người: “Anh em chúng tôi đang tiến về Thiên
đàng đây”.
Khi tới nơi xử, mỗi vị bị trói vào một cọc đã chôn sẵn. Rồi cùng một lúc lý
hình siết cổ các vị bằng dây thừng cho đến lúc tắt thở. Các tín hữu đem thi thể
các vị về an táng tại họ đạo mình. Thánh Mậu ở Kẻ La, thánh Úy ở Đồng Tiến,
thánh Mới ở Phượng Vĩ, thánh Đệ ở Phong Cốc và thánh Vinh ở Hương La, tất
cả đều thuộc tỉnh Bắc Ninh.
Ngày 27.05.1900, Đức Giáo Hoàng Lêo XIII đã suy tôn năm vị anh hùng tử

đạo: Phanxicô Xaviê Hà Trọng Mậu, Đaminh Bùi Văn Úy, Augustinô Nguyễn
Văn Mới, Tôma Nguyễn Văn Đệ và Stêphanô Nguyễn Văn Vinh lên bậc Chân
Phước.