Chứng nhân đức tin
Thánh Augustinô PHAN VIẾT HUY
Augustinô Phan Viết Huy sinh năm 1795 tại làng Hạ Linh, thuở bé có dâng mình cho Chúa, chuẩn bị làm thầy giảng, nhưng sau khi ra ngoài lập gia đình, ông đã phục vụ trong quân ngũ mười năm. Người thứ...
Tiểu sử
Augustinô Phan Viết Huy sinh năm 1795 tại làng Hạ Linh, thuở bé có dâng
mình cho Chúa, chuẩn bị làm thầy giảng, nhưng sau khi ra ngoài lập gia đình,
ông đã phục vụ trong quân ngũ mười năm. Người thứ hai là Nicolas Bùi Đức
Thể sinh năm 1792 tại làng Kiên Trung, tính đến ngày bị bắt, ông mới đi lính
được một tháng. Người thứ ba là Đaminh Đinh Đạt sinh năm 1803 tại làng Phú
Nhai, tuy ít tuổi nhất nhưng đã gia nhập quân đội được 12 năm.
Đâu phải lính là can đảm.
Tổng đốc Nam Định bấy giờ là Trịnh Quang Khanh. Năm 1838, ông đã từng
bị triệu về kinh và bị khiển trách vì tội lơ là thi hành luật bắt đạo của nhà vua. Từ
đó, ông trở thành một thứ “hùm xám” tỉnh Nam Định thề quyết không đội trời
chung với “Gia Tô tả đạo”, cho quân đi lùng bắt khắp nơi. Để công việc có hiệu
quả, đối tượng đầu tiên ông quan tâm là thanh lọc lại ngay trong hàng ngũ quân
đội, những người ông sẽ phải thi hành chiến dịch truy lùng trong dân chúng.
Sau nhiều ngày suy tính kế hoạch và chuẩn bị, Tổng đốc tổ chức đại tiệc
chiêu đãi tất cả các binh sĩ ở Nam Định, dựa vào lý lịch của họ. Hôm đó, có
khoảng 500 anh em đến dự trong bữa tiệc, Tổng đốc đưa ra những lời hứa hẹn và
ban thưởng cho những ai trung thành với vua. Ông cũng khéo léo đe dọa những
ai cố chấp không bỏ tà đạo. Khi tiệc đã tàn, ông cho mời hết thảy vào dinh để
thử lòng họ. Tại đây, quan để sẵn những dụng cụ tra tấn như gông cùm, xiềng
xích, roi kìm... và đặt tượng Thánh Giá dưới đất. Tất cả được tự do lựa chọn,
bước qua ảnh Chuộc Tội, hoặc chịu gia hình thì tùy ý. Tiếc thay trong số 500
lính hôm đó chỉ có 15 người trung kiên, từ chối bước qua ảnh tượng Chúa. Còn
lại bao nhiêu đều nhát sợ bỏ đạo. Tức khắc 15 người kia bị tống giam vào ngục
tối.
Ngày hôm sau, quân lính đưa 15 tín hữu này ra công đường, đánh đòn và bắt
ép các ông bước qua ảnh Chúa. Sáu người sờn lòng bỏ cuộc, chỉ còn chín người
vững vàng trước trận đòn chí tử. Cả chín lại bị tống giam vào ngục. Ba ông Huy,
Thể, Đạt thuộc nhóm chín người này. Riêng ông Huy, vì trước đây có lấy vợ nhỏ
ở tỉnh, đêm hôm đó trốn ra ngoài xưng tội và làm tờ cam kết bỏ vợ nhỏ với cha
Năng tại họ Phúc Đường, rồi trở vô tù với anh em.
Ngày thứ ba, chín người trên lại được đem ra trình diện với quan, Tổng đốc
hứa thưởng tiền cho ai bỏ đạo. Thoạt đầu không ai nghe lời, quan ra lệnh đánh
đập tàn nhẫn, rồi cho lính đánh vào đầu ngón tay từng người. Chịu không nổi
chín người bỏ cuộc, chỉ còn năm vị cương quyết trung thành với Chúa. Đầu
tháng sáu, vua Minh Mạng phái thêm tướng Lê Văn Đức đem 2.000 kinh binh ra
tăng viện cho Nam Định. Viên tướng này vừa đến nơi đã là người cộng tác rất
đắc lực với Tồng đốc trong cuộc bách hại. Ngày 25.06, khi đem Đức cha Henares
Minh và thầy Chiếu đi xử tử, tướng Lê Văn Đức cho dẫn năm binh sĩ bướng bỉnh
ra pháp trường, có ý hù dọa để các ông sợ. Không ngờ các ông tỏ ra hân hoan vì
tưởng sắp chết vì đạo.
Chỉ còn ba người trung tín.
Thấy thế quan lại cho giải năm ông trở về trại giam. Ít bữa sau, quan truyền
gọi năm ông ra tòa, mới đầu quan dùng lời ngon ngọt dụ dỗ, nhưng không thành
công, liền thịnh nộ sai quân lính khiêng hai đầu gông từng người kéo lê trên
tượng Chúa, các ông liền co chân lên. Họ lấy roi đánh túi bụi, vừa đánh vừa kéo
chân các ông xuống đạp lên ảnh thánh. Thêm hai binh sĩ nữa bỏ cuộc sau trận
đòn này, chỉ còn ba ông Huy, Thể và Đạt kiên quyết trả lời với quan rằng: “Các
người cưỡng bách chúng tôi đạp lên tượng Chúa, nhưng lòng chúng tôi không
chiều theo, thì chẳng phải chúng tôi bỏ đạo đâu.” Quan liền ra lệnh đóng gông
thật nặng và giam cả ba vào ngục.
Từ đó trở đi, ba ông còn phải chịu nhiều cuộc tra tấn khác nữa. Khi thì mỗi
người 24 roi, khi thì 150 roi. Một lần quan dùng lý luận khuyên các ông bỏ đạo,
ông Huy thay mặt anh em đáp lại:
- Quan lớn dạy chúng tôi bỏ đạo Thiên Chúa, thì chúng tôi theo đạo nào bây
giờ? Chúng tôi chỉ theo đạo thật thôi.
Quan thét lên:
- Nếu đạo chúng bay là đạo thật, sao Đức Vua lại nghiêm cấm?
Bấy giờ ông Huy có dịp sử dụng những gì xưa đã học khi chuẩn bị làm thầy
giảng, để cắt nghĩa các lẽ đạo và trả lời cách mạch lạc sáng sủa những câu hỏi
quan đặt ra. Thấy mình đuối lý, quan cho lệnh giam ba ông chung với linh mục
Giacôbê Năm, ông Lý Mỹ và ông Trùm Đích. Cha Năm hỏi ba ông:
- Hôm nay thế nào, được hay thua?
Các ông vui vẻ đáp:
- Chúng con chẳng chịu quá khóa, nên quan đã làm án xử rồi.
Thế nhưng án của các ông chưa được vua Minh Mạng châu phê. Vua truyền
các quan bằng mọi cách bắt ba ông bỏ đạo vì “khi đầu đã đứt, chẳng còn có phép
chi nối lại được nữa.” Giai đoạn này, Trịnh Quang Khanh đang bị ngưng chức
Tổng đốc, Tổng trấn Lê Văn Đức tạm thay quyền đã cho lệnh đóng gông và đưa
ba chiến sĩ Đức Kitô phơi nắng chỗ công cộng, ông Huy và ông Thế ở cửa Đông,
ông Đạt ở cửa Nam suốt 21 ngày liền, mọi người đi qua đều tự do hành hạ, sỉ
nhục tùy ý. Nhưng quan lại một lần nữa thất bại.
Tháng 10.1838, Trịnh Quang Khanh được phục chức Tổng đốc, nên hết lòng
tìm cách đền đáp ơn vua. Tổng đốc cho những người đã bỏ đạo trước đây vào
ngục thất khuyên dụ ba ông bỏ đạo, nhưng những người này bị các ông khiển
trách là kẻ hèn nhát dại dột, nên mắc cỡ không dám nói năng gì cả. Tổng đốc
chuyển sang kế hoạch mới, dọa nạt vợ con, thân nhân, bạn bè của các ông, bắt họ
vào nài nỉ dụ dỗ, hy vọng các ông sẽ xiêu lòng. Nhưng cả ba vị vẫn cương quyết
trung thành với Chúa.
Một phút lầm lỡ... và thống hối.
Cuối cùng Tổng đốc cho gọi các kỳ mục ba làng Hạ Linh, Kiên Trung, Phú
Nhai đến và ra hẹn trong một tháng phải ép ba chiến sĩ đức tin bỏ đạo, bằng
không sẽ bị trừng phạt. Một tháng sau, những người này vẫn chưa hoàn thành
được công tác khó khăn ấy. Quan liền tập trung các kỳ mục và cho lệnh đánh
đòn họ trước mặt ba người chiến sĩ Đức Kitô. Và lần này ông thành công. Ông
Thể động lòng trước cảnh một bô lão làng Kiên Trung chịu đòn thâm tím vì
mình, xin quan tha cho cụ bằng cách đồng ý bước qua Thập Giá. Quan quân vỗ
tay reo mừng. Tiếp theo ông Đạt cũng bước qua Thập Giá. Riêng ông Huy vẫn
chưa chịu khuất phục.
Đêm hôm đó, quan cho người vào ngục dụ dỗ ông Huy: “Chẳng ai cười chú
đâu, vì chú đã chịu khổ rất can đảm. Vua chẳng muốn giết chú, chỉ bằng cứ bước
đại qua Thập Giá để khỏi rầy rà”. Ông Huy nghe thế hơi xiêu lòng, lại thấy hai
bạn mình được tự do cả rồi, nên sáng hôm sau ông cũng theo chân các bạn bỏ
đạo. Quan cho mỗi người mười quan tiền và cho trở lại quân ngũ.
Thế nhưng ba người lính được tự do trở về nhà lại thấy lòng áy náy, lương
tâm cắn rứt. Các ông không ngờ vụ án mình không chỉ là vấn đề cá nhân. Quá
nhiều người quan tâm và cầu nguyện cho các ông mỗi ngày. Do đó, việc bỏ đạo
của ba người cuối trong nhóm 500 binh sĩ trở thành tin buồn lớn lao cho tập thể.
Có người không tin các ông đã đạp lên Thập Giá. Dù các ông hoàn toàn nhận lỗi
nơi mình, họ bảo rằng chắc các quan dùng thuốc mê khiến các ông mất sáng
suốt. Thế là ba ông sau khi xưng tội, bàn bạc với nhau và cương quyết lên tỉnh để
tuyên xưng đạo một lần nữa.
Lòng can đảm hy hữu.
Đến tỉnh, ba ông vào thẳng dinh quan Tổng đốc trình bày nguyện vọng của
mình: “Thưa quan, đạo Thiên Chúa là đạo thật, Chúa chúng tôi thờ là Đấng
quyền năng vô biên. Mấy ngày trước chúng tôi đã trót dại quá khóa. Nay chúng
tôi xin trả tiền lại cho quan để được giữ đạo Chúa cho thật lòng”. Quan nghe nói
tức giận chửi mắng ba ông thậm tệ, rồi ra lệnh giam vào ngục để tìm cách dụ dỗ
như lần trước. Nhưng vì quan đã báo cáo lên vua việc ba ông bỏ đạo nên muốn
cho qua chuyện, chỉ truyền đánh đòn ba ông và rồi đuổi ra khỏi dinh. Số tiền các
ông trả, quan trao cho hương chức ba làng của các ông.
Trở về nhà, ba ông cầu nguyện liên lỉ và tiếp tục bàn bạc với nhau, dự tính
vào tận kinh đô để tuyên xưng niềm tin. Ba ông đến hỏi ý kiến cha Tuyên và cha
Năng. Các ngài nói tùy ý, chứ tội các ông không buộc phải đền bằng cách đó.
Cha Chính Jimenô Lâm (sau này làm Giám mục địa phận Đông Đàng Ngoài)
nghe tin thì viết thư tán thành sáng kiến đó. Thế là ba ông ngồi lại với nhau viết
một lá đơn cho vua, bày tỏ niềm tin của mình. Ông Đạt cũng ký vào đơn, nhưng
vì đang phải công tác với đội binh nên ở lại. Hai ông Huy và Thế có cơ hội tức
tốc khăn gói đi vào Huế. Trước khi lên đường, cha Tuyên nhắc bảo hai ông phải
trông cậy vào Chúa hơn là sức mình, phải cầu nguyện nhiều mới có thể can đảm
làm chứng cho đạo Chúa. Hai vị xưng tội một lần nữa, chào giã biệt họ hàng thân
thích và xin mọi người góp lời cầu nguyện. Sau 20 ngày đi, các ông vào tới kinh
đô đầu tháng 05.1839. Một người con ông Huy mới 16 tuổi cũng theo chân cha
để nghe ngóng tin tức.
Theo thủ tục khi đó, ba ông đến nộp đơn ở tòa Tam Pháp chờ đợi. Các quan
nhận đơn, nhưng lại bỏ qua không trình lên vua. Trong thời gian chờ đợi, các
ông ở trọ nhà bà Đông, cũng là một tín hữu ở Huế. Sau đó hai vị làm thêm một lá
đơn thứ hai, nhưng tòa Tam Pháp vẫn im tiếng làm ngơ như cũ. Thế là các ông
phải tính đến một kế hoạch táo bạo hơn. Nhân dịp vua Minh Mạng ngự giá đi
dạo trong thành phố, hai ông đón đường để trình đơn thẳng lên nhà vua. Đọc
xong vua nổi giận tống giam cả hai, và giao cho các quan bộ Hình cứu xét.
Khổ hình và vinh phúc.
Các quan ở kinh đô khuyến dụ, hứa hẹn nhiều điều, rồi tra tấn đánh đập,
nhưng hai nhân chứng vẫn trước sau như một, tuyên xưng là những binh sĩ có
đạo. Tướng quân Lê Văn Đức ở Nam Định trở về, vì đã từng biết sự gan dạ của
hai ông nên nói: “Đừng hy vọng thuyết phục bọn này, đánh chúng chỉ mỏi tay
thôi.” Một hôm quan hỏi tại sao trong đơn còn có chữ ký của Đinh Đạt, hai ông
trả lời: “Thưa quan, anh Đạt cũng không chịu quá khóa, nhưng bận việc quân
nên không đi với chúng tôi được. Anh ấy dặn: chúng tôi thế nào, anh ấy cũng
như vậy.”
Các quan trình bày sự việc lên vua để lãnh ý. Sau đó theo lệnh vua, quan cho
bày trước mặt hai ông mười nén vàng, một tượng Chịu Nạn và một thanh gươm
rồi nói: “Cho bay tự ý chọn, bước qua tượng thì được vàng, bằng không thì gươm
sẽ chặt đôi người bay ra, xác sẽ bị trôi ngoài biển.” Hai ông bày tỏ ý muốn chọn
gươm. Vua Minh Mạng nổi giận truyền viết bản án như sau:
“Trước đây ta đã làm án tử hình, nhưng ta thương chẳng muốn giết, nào ngờ
chúng đã mê dại chẳng biết sự phải lẽ. Ta đã mở lối cho chúng ăn năn chừa cải,
song hai tên tội phạm cố chấp theo Gia Tô tả đạo, lại bỏ việc quân vào kinh nộp
đơn. Thật là bọn kiêu ngạo đáng khinh, đáng ghét, chẳng thể để sống được nữa.
Vậy hai tội phạm Phan Viết Huy và Bùi Đức Thể phải cho lính đem ra biển lấy
rìu lớn chặt ngang lưng rồi bỏ xác xuống biển, để ai nấy biết tỏ điều răn cấm...”
Phần sau bản án, vua giao cho Trịnh Quang Khanh việc điều tra ông Đinh
Đạt và dặn trình báo lại. Ngày 13.06.1839, quân lính điệu hai ông ra cửa Thuận
An thi hành án lệnh. Họ dẫn hai ông lên thuyền chèo ra giữa biển, đặt một
Thánh Giá ngay trong thuyền, để thử xem các ông có đổi ý đạp lên chăng. Khi
thất vọng, họ trói hai ông vào cột chèo, thay vì chặt ngang lưng, họ chặt đầu
trước rồi bổ thân ra làm bốn, ném xuống biển làm mồi cho cá.
Bổ làm tám cũng được.
Về phần ông Đinh Đạt, sau khi đi công tác trên tỉnh, ông thu xếp việc nhà và
chuẩn bị tâm hồn đón nhận cái chết anh hùng. Cuối tháng 06.1839, một người
bạn đồng đội đến báo tin ông Huy và Thể đã bị hành hình. Ông Đạt tỏ ra rất vui
mừng, báo tin cho cha mẹ, bà con, từ giã mọi người. Ông không tính chuyện
chạy trốn, chỉ chờ đợi ngày bị bắt. Vợ con khóc lóc, ông lựa lời an ủi và quả
quyết Chúa sẽ lo liệu và quan phòng mọi sự. Khi quân lính đến vây bắt, ông lánh
mặt ít giờ để xưng tội và rước lễ lần cuối, rồi thản nhiên đi theo họ lên tỉnh. Dọc
đường ông sốt sắng lần chuỗi, suy niệm các mầu nhiệm kinh Mân Côi.
Đến Nam Định, lính đưa ông vào gặp Trịnh Quang Khanh, quan Tổng đốc
bảo ông:
- Hai bạn của ngươi vì cuồng dại không chịu bỏ đạo tà, nên đã chém làm tư
quăng xuống biển. Còn ngươi, nếu khôn thì chối bỏ đi để về với vợ con.
Ông Đạt thẳng thắn thưa:
- Tôi đã chịu nhiều cực hình vì đức tin, nay tôi sẵn sàng chịu thêm nhiều
hình khổ khác nữa. Hai bạn tôi đã được phúc trọng, quan cứ chém tôi làm tám
khúc cũng được.
Quan biết có đe dọa cũng không thành công, liền lập án gởi về kinh xin xử
giảo.
Ông Đạt khi nghe đọc bản án thì rất bình tĩnh, vui mừng đón nhận cái chết
gần kề. Ngày 18.07.1839 ông theo lính ra pháp trường Bảy Mẫu, vừa đi vừa
chăm chú đọc kinh. Đến nơi xử, ông quỳ trên chiếu cầu nguyện giây lát, rồi chờ
quân lính tháo gông trên cổ, ông nằm xuống. Lý hình đứng hai bên dùng dây siết
cổ ông cho đến khi tắt thở. Tín hữu làng Phú Nhai thương lượng với quan quân
đem thi hài vị anh hùng tử đạo về an táng tại khu đất của người anh cả vị anh
hùng. Sau hài cốt của ông Đạt được lưu giữ tại nhà thờ Phú Nhai.
Ngày 27.05.1900, Đức Lêo XIII suy tôn ba vị anh hùng tử đạo: Augustinô
Phan Viết Huy, Nicolas Bùi Đức Thể và Đaminh Đinh Đạt lên bậc Chân Phước.