Lời Chúa Hôm Nay Thứ Hai, 15/6/2026
Ngày kính Ngày 18 tháng 12

Chứng nhân đức tin

Thánh Phêrô VŨ TRUẬT

Phêrô Vũ Truật sinh năm 1817 ở làng Hà Trạch, họ Kẻ Thiếc, huyện Sơn Vy, trấn Sơn Tây. Gia đình anh rất nghèo, cha chết sớm, vốn liếng lại chẳng có, mẹ anh phải đầu tắt mặt tối suốt ngày, để...

Thầy giảng 1817 - 1838 Xử giảo
Chức vụ Thầy giảng
Năm sinh - tử đạo 1817 - 1838
Ngày kính Ngày 18 tháng 12
Nơi tử đạo ở Gò Vôi
Cách tử đạo Xử giảo

Tiểu sử

Phêrô Vũ Truật sinh năm 1817 ở làng Hà Trạch, họ Kẻ Thiếc, huyện Sơn Vy,
trấn Sơn Tây. Gia đình anh rất nghèo, cha chết sớm, vốn liếng lại chẳng có, mẹ
anh phải đầu tắt mặt tối suốt ngày, để nuôi ba con dại, nên Phêrô Truật không
được đi học và gầy yếu xanh xao.
Tuy nhiên, anh Truật có lòng đạo đức, thường lui tới nhà thờ kinh lễ, nên
được cha Tân chánh xứ Bầu Nọ chọn vào phục vụ nhưng việc nhẹ trong xứ và
tạo điều kiện cho ăn học. Dầu thế mặc lòng, anh Truật cũng chẳng bằng ai. Phần
trí khôn hơi chậm, phần hay bị đau ốm luôn, anh chỉ có thể biết đọc biết viết sơ
sơ. Bù lại, anh rất thuộc kinh, nên đặc trách việc dạy kinh truyền khẩu cho các
thiếu nhi nhỏ tuổi.
Mãi đến khi bị bắt giam trong ngục tù rồi, Đức cha Havard Du mới chứng
nhận anh là thầy giảng, vừa để lòng tin làm chứng cho đức tin. Thầy Truật tuy
không còn cơ hội để giảng bằng lời nói, nhưng thái độ kiên tín của thầy chính là
lời giảng có sức thuyết phục hơn nhiều.
Ba tấm lòng vàng.
Ở Bầu Nọ có người ngoại giáo tên là Đức cầm đầu một băng cướp đã bị bắt.
Để nhẹ tội, y nói với vợ là Yến vu oan cho cha Cornay Tân tội tổ chức phản loạn.
Chị ta liền giả vờ đến xin học đạo để dò xét nhưng nơi cha thường trú ẩn. Khi
biết được, chị ta liền giấu vũ khí trong vườn nhà cha, rồi đi mật báo cho các quan
tỉnh Sơn Tây.
Ngày 20.06.1837, quan Sơn Tây phái 1.500 quân lính liền đến làng Bầu Nọ,
bắt vị đạo trưởng Tân. Hai thầy Mỹ và Đường cũng như anh Truật ngồi lẫn vào
đám đông dân chúng bị tập trung nơi đình làng. Lính lục soát từ sáng tới trưa

vẫn không thấy cha Tân đâu cả. Bà Yến liền bày cho lính bắt anh Truật, hai thầy
Mỹ và Đường là những người thân thiết với cha xứ để tra hỏi.
Chiều hôm đó, lính phát hiện được cha đang ẩn trong bụi rậm. Nhưng để có
nhân chứng ghép tội cha, ba vị phụ tá này cũng bị áp giải với ngài hơn sáu dặm
đường về nhà lao tỉnh Sơn Tây. Tại công đường, ba người đã khéo léo minh
chứng cha xứ không theo giặc nổi loạn, và giải thích những lời đồn đại sai về
đạo. Thí dụ quan hỏi: “Sao các ông móc mắt người chết để luyện bùa phép?”
Thầy Mỹ trả lời: “Không lẽ quan tin những lời đồn vô lý đó sao? Bởi vì nếu
chúng tôi làm như thế, cha mẹ vợ con họ đâu để chúng tôi yên. Vậy mà chúng tôi
vẫn ra vào nhà họ, gặp gỡ thân ái và vui vẻ.”
Các cuộc thẩm vấn thường đi liền với những tra tấn dã man. Đây là chứng từ
của thầy Mỹ:

Lính lột áo chúng tôi ra, bắt chúng tôi nằm xuống, lấy dây thừng cột tay chân, rồi
kéo căng, cột vào bốn cọc ở bốn phía. Nguyên sự căng nọc như thế đủ làm chúng tôi
đau đớn vô cùng. Thế rồi họ bắt đầu đánh đòn... Cuối cùng họ không đánh bằng một
chiếc roi nữa, mà là cả bó. Mỗi lần đánh, hằng trăm đầu roi mây in lằn trên da thịt
chúng tôi, tạo nên những vết thương đẫm máu...

Riêng thầy Truật vì ốm yếu nên được đeo gông nhẹ hơn và bị ít đòn hơn.
Nhưng sau mỗi kỳ tra tấn, cả ba người đều kiệt sức, phải khiêng về ngục thất.
Ngày 20.09, lính canh tù loan tin cha Tân đã bị trảm quyết, và khuyên các thầy
bỏ đạo, cả ba vị cùng nói: “Chúng tôi mừng vì thầy chúng tôi được tử đạo, chúng
tôi nguyện theo gương ngài.”
Giai đoạn này thầy Mỹ ghi lại trong một lá thư: “
Suốt bốn tháng liền, chúng tôi
bị gông cùm xiềng xích, chịu lính canh nghiệt đãi, phòng giam ẩm thấp hôi hám, ruồi
muỗi tự do hoành hành mà trên người thì đầy những vết thương tra tấn...

Tháng 10, bản án tỉnh Sơn Tây tâu vua Minh Mạng được chuẩn phê và gửi
về. Nhưng thay vì giết ngay, bản án quyết định “giam hậu”, nghĩa là khoan xử

chờ quyết định mới. Bề ngoài bản án có vẻ nhân đạo, nhưng thực ra bên trong
rất thâm độc: Với thời gian, nhiệt tình ban đầu có nguy cơ phai nhạt, vì tử tội
luôn bị ám ảnh đến chuyện phải ngồi tù không biết đến bao giờ. Đàng khác sự
chịu đựng của con người có hạn, quá khổ đau, quá mòn mỏi, quá thất vọng, con
người dễ bị lung lạc mà thay đổi ý định. Thực tế, ba thầy giảng phải chờ thêm 14
tháng, vị chi tất cả là một năm rưỡi bị giam cầm. Nhưng suốt thời bị giam cầm
thử thách lâu dài ấy, ba thầy vẫn gắn bó với nhau trong nhẫn nại, can đảm và giữ
vững mãi khát vọng phúc tử đạo, mỗi sáng cũng như mỗi tối, các thầy lớn tiếng
đọc kinh Mân Côi chung, cầu nguyện chung. Đồ ăn thức uống, thuốc men nhận
được, ba vị chia sẻ cho lính canh. Những ai đến thăm thường được khuyên nhủ:
“Anh em hãy sống hòa thuận với mọi người trong gia đình, làng nước, hãy là giáo
hữu nhiệt thành, vì đời sống trần gian chẳng là bao. Chúng tôi đã vâng theo ý
Chúa định đoạt, hy vọng mai này chúng ta sẽ đoàn tụ trên Trời.”
Cha Triệu giả làm thường dân mang Mình Thánh Chúa cho các thầy được
bốn lần. Đối với các thầy, đó quả là hồng phúc lớn lao. Ta thử đọc tâm sự của
thầy Đường gửi cho cha Marette trong thư: “
Hôm nay là ngày trọng đại, chúng con
được rước Mình Thánh Chúa. Xin tạ ơn Chúa đã viếng thăm và làm vơi nhẹ những
xiềng xích của chúng con... Cửa Thiên đàng đã gần kề, nghĩ đến hạnh phúc đang chờ
đợi, chúng con chẳng còn ước sự gì khác nữa...

Cùng chiến thắng vinh quang.
Năm 1838, triều đình duyệt lại bản án và chỉ thị cho quan tỉnh Sơn Tây thi
hành. Ngày 18.12, ba chứng nhân anh dũng bị điệu ra pháp trường ở Gò Vôi,
làng Mông Phụ, tỉnh Sơn Tây. Mỗi người mang trên ngực tấm thẻ ghi tên, họ
nguyên quán và tội theo đạo Gia Tô, đã thú nhận, truyền xử giảo.
Trên đường đến nơi hành quyết, như đã hẹn trước, ba thầy cùng làm dấu khi
thấy cha Triệu đứng giữa dân chúng ban phép lành tha tội. Một người lính cho

các ngài uống rượu, ba vị cám ơn chỉ xin uống nước trà và nói: “Thầy giảng
chúng tôi kiêng rượu như kiêng sắc dục và kiêng phản bội”.
Đến nơi xử, ba thầy nằm dài trên chiếu, quân lính vây thành một vòng tròn
lớn, để ngăn chặn dân chúng. Từng vị một bị trói chân vào cột và trói chéo hai
tay ra sau lưng. Dây thừng tròng sẵn vào cổ. Giữa tiếng chuông trống vang rền,
theo lệnh quan, lý hình mỗi bên nắm chặt đầu dây siết thật căng, chờ tới khi tắt
thở. Máu ứa ra ngoài miệng. Sau đó họ lấy lửa đốt thử gan bàn chân để xác nhận
các tử tội đã chết thật rồi. Cha Marette và giáo dân đưa thi hài ba thầy về họ Kẻ
Măng gần đấy tẩm liệm. Ngài dâng lễ cầu hồn tạ ơn Chúa đã cho các bậc tôi
trung thắng trận khải hoàn.
Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn ba thầy Phaolô Nguyễn Văn Mỹ, Phêrô
Trương Văn Đường và Phêrô Vũ Truật lên bậc Chân Phước, ngày 27.05.1900.