Lời Chúa Hôm Nay Thứ Hai, 15/6/2026
Ngày kính Ngày 21 tháng 12

Chứng nhân đức tin

Thánh Phêrô TRƯƠNG VĂN THI

Thánh Phêrô TRƯƠNG VĂN THI, Linh mục (1763 – 1839) Lý hình cõng tử tội. Trên đường ra pháp trường, từ nhà ngục Hà Nội đến Ô Cầu Giấy, người tử tội ốm yếu bệnh tật với tuổi già 76, bước đi...

Linh mục 1763 - 1839
Chức vụ Linh mục
Năm sinh - tử đạo 1763 - 1839
Ngày kính Ngày 21 tháng 12

Tiểu sử

Thánh Phêrô TRƯƠNG VĂN THI, Linh mục (1763 – 1839)
Lý hình cõng tử tội.
Trên đường ra pháp trường, từ nhà ngục Hà Nội đến Ô Cầu Giấy, người tử
tội ốm yếu bệnh tật với tuổi già 76, bước đi chẳng nổi nữa. Ông bước đi lảo đảo
rồi ngã quỵ xuống đường. Trước tình cảnh tang thương đó, một người lính đoàn
hành quyết khom lưng cõng tử tội đến pháp trường. Tử tội đó là linh mục Phêrô
Trương Văn Thi.
Người mục tử hiền hòa nghèo khó.
Phêrô Trương Văn Thi mở mắt chào đời năm 1763 tại làng Kẻ Sở, huyện
Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Năm 11 tuổi, cậu được nhận vào nhà Đức Chúa Trời
để tu học, tập tành các nhân đức, rồi trở thành thầy giảng. Trong chức vụ này,
thầy Thi luôn chứng tỏ nhiệt tâm tông đồ, đời sống đạo đức, và khả năng đời
đạo, nên được gửi vào đại chủng viện. Đến ngày 22.03.1806, thầy lãnh chức linh
mục khi tuổi đã 43.
Trong 27 năm liền, cha Thi coi sóc xứ Sông Chảy thuộc phủ Đoan Hùng,
tỉnh Phú Thọ. Năm 1833, ngài được bổ nhiệm chánh xứ Kẻ Sông, và ở đó cho
đến khi tử đạo năm 1839. Theo lời chứng của các tín hữu tại đây, cha Thi là một
linh mục: “Rất nhân đức, mỗi ngày đọc kinh nguyện lâu giờ ba bốn lần, cử hành
thánh lễ trang nghiêm. Ăn uống đạm bạc, thường ăn chay các thứ sáu, mặc dù
sức khỏe của ngài yếu kém với chứng đau bụng thường xuyên”.

Thừa sai Jeantet Khiêm sau làm Giám mục Tây Đàng Ngoài đã viết về cha
Thi: “Tôi quen biết ngài từ năm 1835, tôi cảm phục ngài về lòng đạo đức thâm
sâu, có tính hiền hòa, khôn ngoan và trung thành giữ lề luật”. Cha sống khó
nghèo, ngoài áo chùng thâm, cha chỉ mặc đồ nâu như một nông dân nghèo nàn.
Ngoài giáo xứ chính, cha còn phụ trách nhiều họ lẻ. Một lần di chuyển trên
sông, thuyền của cha bị đắm, người tháp tùng cha chết đuối, còn cha sống sót
được nhờ bám vào hòm đựng đồ lễ. Suốt mấy chục năm phục vụ giáo xứ, không
hề thấy một ai kêu ca, chê trách cha lời nào.
Do chiếu chỉ cấm đạo toàn quốc của vua Minh Mạng, cha Thi luôn hoạt
động âm thầm. Được một thời gian khá lâu, bất ngờ vào ngày 10.10.1839, khi
cha Dũng Lạc ở làng kế cận tìm đến xưng tội, viên Lý trưởng tên Pháp hay tin,
đưa người đến bắt cả hai linh mục. Lý Pháp mặc cả giá tiền chuộc với các tín
hữu, và ngã giá là 200 quan. Khi các tín hữu mới gom góp được một nửa số tiền,
ông chỉ tha một mình cha Dũng Lạc. Ai ngờ trên đường về, cha Dũng Lạc lại bị
một tóm lính khác bắt được. Thế là Lý Pháp không dám cho chuộc cha Thi nữa,
và cho áp giải ngài về Bình Lục. Giữa đường, ông gặp đám lính đang áp giải cha
Dũng Lạc, liền nộp cha Thi cho quan huyện. Từ đó hai vị cùng chung số phận tù
ngục và cùng chung hưởng phúc vinh quang.
Ông “quan bên đạo” dưới mắt ông quan bên đời.
Quan huyện Bình Lục tỏ ra rất vị nể hai linh mục. Riêng với cha Thi quan ái
ngại cho tuổi già sức yếu, nên cư xử càng lịch thiệp hơn. Ông nói: “Tôi làm quan
bên đời, còn ông làm quan bên đạo.”
Dĩ nhiên, ông đã hiểu sai về chức năng phục vụ của người linh mục, nhưng
dầu sao, đó cũng là bằng chứng của sự kính nể. Biết không thể lay chuyển lòng
tin của hai vị, quan không tra tấn gì cả, chỉ giữ lại ba ngày rồi cho giải về Hà Nội.
Như Philatô rửa tay trong vụ án Đức Giêsu, viên quan huyện sau đó cũng mở lễ

cúng vái các thần, thanh minh với mọi người, và xin trời đất chứng giám cho
mình vô can trong cái chết của những kẻ vô tội.
Khi hai cha được đưa lên Hà Nội bằng thuyền theo đường sông Hồng, các tín
hữu kéo nhau đi theo rất đông, kẻ đi thuyền, người đi bộ trên bờ đê. Ngày 16.10,
thuyền áp giải hai cha đã cập bến. Hôm sau, quan án cho điệu hai cha ra công
đường và bắt đạp lên Thánh Giá. Cha Thi quỳ xuống, nghiêm trang hôn kính
dấu chỉ Đấng Cứu Độ. Sau nhiều lần hạch hỏi, quan thấy không có cách nào
khuất phục được hai vị linh mục, liền làm bản án tâu vua xin trảm quyết.
Trong khi chờ đợi vua phê án, cha Thi biết trước số phận của mình, và chuẩn
bị đón nhận hồng phúc tử đạo của mình. Cha ăn chay các ngày thứ hai, thứ tư,
thứ sáu và thứ bảy. Bệnh tật, gông cùm (dù cha chỉ phải mang gông nhẹ) và chay
tịnh làm sức khỏe của cha càng sa sút. Thừa sai Jeantet Khiêm viết thư vào đề
nghị cha giảm bớt khổ chế đi nhưng cha vẫn không thay đổi.
Tình yêu không biên giới.
Ngày 21.12.1839, lần thứ hai khi cha Trân đưa Mình Thánh vào, cha Thi đã
liệt giường, phải nhờ cha Dũng Lạc ra nhận và trao Thánh Thể. Không ngờ
chính hôm đó lại là ngày cuối cùng cuộc đời dương thế của các ngài, bản án vua
châu phê đã vào tới. Quân lính dẫn hai cha ra pháp trường. Trên đường, cha Thi
không còn sức bước đi nữa, nên một người lính đã đóng vai “Simon”, cõng cha
đến nơi thụ án.
Quãng đường cuối cùng của cha Thi: đôi giày, kỷ vật tặng cho người lính,
hình ảnh một “Simon Xirênê” Việt Nam cĩng tử tội ra pháp trường... Làm sao
diễn tả hết ý nghĩa của những điều đó đủ xoa dịu những đố kỵ còn sót lại cho
đến ngày nay? Và phải chăng hình ảnh đó cho phép ước mơ một xã hội, tương lai
xán lạn hơn, khi mọi người dân vượt qua mọi trở ngại để đối xử với nhau bằng
trái tim yêu thương?
Giáo hữu thấm máu vị tử đạo, thâu lượm các di vật, rồi đưa thi hài các ngài

về Kẻ Sở dâng lễ và an táng cách trọng thể.
Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn cha Phêrô Trương Văn Thi lên bậc Chân
Phước ngày 27.05.1900.
Thừa sai Jeantet Khiêm nhận định về cuộc tử đạo của cha Phêrô Thi như sau:
“Ân sủng đã toàn thắng sự yếu đuối của con người. Nhờ ân sủng, con người bẩm
sinh vốn hiền lành này đã có được sức mạnh trước đây chưa từng có”.