Chứng nhân đức tin
Thánh Phêrô ĐOÀN CÔNG QUÝ
Thánh Phêrô ĐOÀN CÔNG QUÝ, Linh mục (1826 – 1859) Những năm thơ ấu. Ông Antôn Đoàn Công Miêng và bà Anê Nguyễn Thị Thường sinh sống ở Bắc Việt cho đến năm 1820.
Tiểu sử
Thánh Phêrô ĐOÀN CÔNG QUÝ, Linh mục (1826 – 1859)
Những năm thơ ấu.
Ông Antôn Đoàn Công Miêng và bà Anê Nguyễn Thị Thường sinh sống ở
Bắc Việt cho đến năm 1820. Cả gia đình di cư vào Nam ở tại họ Búng, làng Hưng
Thịnh, tổng Bình Thạnh, hạt Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Dương). Năm 1826,
người con trai út, Phêrô Đoàn Công Quý chào đời. Đây là người con thứ sáu
trong gia đình và là hy lễ của gia đình ông Miêng hiến dâng cho Thiên Chúa.
Vì thấy vị con út thông minh, nên ông Miêng cố lo liệu để cậu chuyên chăm
lo việc học vấn, với hy vọng mai sau nối dòng thi lễ, làm vẻ vang cho cả gia tộc.
Nhưng Thiên Chúa muốn cho người con út này đi theo con đường khác. Cậu
Quý thường lui tới gặp gỡ và học hỏi cha Tám ở nhà thờ họ Búng. Một thời gian
sau, cậu xin phép cha mẹ được ở luôn với người, thỉnh thoảng mới về thăm gia
đình.
Theo tiếng Chúa gọi.
Năm 1847, cha Tám giới thiệu chàng trai 21 tuổi này với cha Gioan Miche
Mịch để được học hỏi tiếng Latinh và tiếp tục theo đuổi ơn gọi tu trì. Sau khi
học tiếng Latinh tại nhà cha Mịch, cậu Quý được học tại Chủng viện Thánh
Giuse (Thị Nghè) do cha Borelle làm giám đốc. Năm 1848, thầy Quý được du
học tại đại chủng viện của Hội Thừa Sai Paris ở Pénang (Mã Lai). Tại đây, thầy
học triết lý và thần học, ngôn ngữ, văn chương. Việc huấn luyện như thế là khá
đầy đủ cho một linh mục thuộc miền truyền giáo trở về hoạt động tại quê
hương.
Trên con đường sứ vụ.
Năm 1855, thầy Quý hồi hương vào thời kỳ vua Tự Đức ra sắc chỉ cấm đạo
gắt gao. Tháng 09.1855, vua Tự Đức ra chiếu chỉ thứ 3, trong đó không ngừng
lùng bắt các đạo trưởng, mà còn bắt cả giáo hữu phải xuất giáo, triệt hạ các thánh
đường, phá hủy các cơ sở tôn giáo... Với hoàn cảnh bất lợi này, Đức cha Lefèbvre
Nghĩa trao cho thầy nhiệm vụ săn sóc, dạy dỗ, động viên các giáo hữu tại các họ
đạo. Qua một thời gian hoạt động, thầy tỏ ra là người nhiều khả năng, nên Đức
cha đã truyền những chức nhỏ cho thầy. Sau 3 năm thi hành việc mục vụ tại các
giáo họ, tháng 09.1858, thầy Quý được lãnh chức linh mục tại nhà thờ Thủ Dầu
Một. Sau một thời gian phục vụ các giáo xứ Lái Thiêu, Gia Định và Kiến Hòa,
Đức cha bổ nhiệm cha Phêrô Quý làm phó xứ Cái Mơn (Vĩnh Long).
Cha Phêrô Quý được tuyển chọn vào cánh đồng truyền giáo trong giai đoạn
đặc biệt của đất nước: Pháp và Tây Ban Nha đem quân đánh phá ở Cửa Hàn (Đà
Nẵng) vào tháng 09.1858 làm cho vua Tự Đức càng thêm căm ghét các giáo sĩ
nước ngoài và đạo Thiên Chúa. Do đó, cuộc bách hại ngày càng khốc liệt hơn.
Nhưng nhiệt tình truyền giáo đã làm cho cha Quý vượt thắng mọi gian khổ, đe
dọa, hiểm nguy. Chỉ 3 tháng sau khi cha về Cái Mơn, quân lính bao vây dòng
Mến Thánh Giá Cái Mơn để lùng bắt giáo sĩ, nhưng không có vị nào ở đó, nên
lính bắt giam một số nữ tu để tra tấn, khai thác các chị về chỗ ở của các ngài.
Nghe tin các nữ tu bị bắt, cha Quý muốn nộp mạng để lính tha cho chị em,
nhưng giáo hữu ngăn cản và không để cha thực hiện ý định này. Cha vẫn ao ước
sẵn sàng hy sinh để thế cho các chị. Cha chỉ bỏ ý định này khi có lệnh rõ ràng
của cha Bề trên địa phận Borelle Hòa. Từ đó, cha cải trang thành thường dân, đi
thăm viếng, an ủi và ban các bí tích cho các giáo hữu.
Chặng đường khổ giá.
Đức cha bổ nhiệm cha Quý về giáo họ Đầu Nước ở Cù Lao Giêng, tỉnh An
Giang ngày 27.12.1858 thì mười ngày sau (07.01.1859) quan Tổng đốc An Giang
được mật báo có Tây dương đạo trưởng trú ẩn tại nhà ông Lê Văn Phụng ở Đầu
Nước. Quan sai 100 quân lính đến bao vây nhà ông Phụng. Khi lính gần đến
làng, giáo hữu đến báo tin cho gia đình ông Phụng. Nghe tin này, cha Pernot
Định đã đề nghị với cha Quý cùng đi trốn, nhưng cha Quý bình tĩnh trả lời:
- Tôi là người bản xứ chắc quan quân khó nhận ra. Cha cứ đi trước. Tôi ở lại
thu dọn đồ lễ để khỏi gây phiền hà cho chủ nhà và giáo họ, rồi sẽ theo sau.
Sau khi cha Pernot ra khỏi thì quan quân ập tới. Cha Quý chạy vào ẩn nấp
dưới sàn nhà, quan ra lệnh cho ông Phụng phải nộp đạo trưởng Tây như đã được
mật báo. Ông Phụng cương quyết trả lời là không có ai là đạo trưởng Tây cả.
Quan dọa là nếu không tuân lệnh thì sẽ bị đánh đòn. Thấy lình sắp sửa đánh đòn
chủ nhà, cha Quý tự ra nhận mình là đạo trưởng. Lính không chịu nghe và nói
chắc chắn là có tên đạo trưởng Tây ở trong nhà này. Cha Quý lại cương quyết
khẳng định:
- Không có Tây dương đạo trưởng nào ở đây, chỉ có tôi là đạo trưởng. Ai
muốn theo đạo tôi sẵn sàng chỉ dạy.
Thấy cha Quý còn trẻ, quan không tin ngay, liền hỏi em nhỏ 10 tuổi, cháu
nội của ông Phụng, xem đạo trưởng là ai. Nó chỉ vào cha Quý và thưa:
- Bẩm, ông này ạ!
Lính liền trói cha Quý, ông Phụng và 32 giáo hữu, rồi xiềng xích giải về
Châu Đốc. Đến Châu Đốc, lính áp giải cha Quý đến quan Tổng đốc. Quan thẩm
vấn cha nhiều điều và hứa sẽ tha cho về nếu cha tuyên bố bỏ đạo, theo như chiếu
chỉ nhà vua. Nhưng cha Quý vẫn cương quyết nhận mình là đạo trưởng, không
bao giờ bỏ đạo Thiên Chúa.
Lần khác, quan nói với cha:
- Thầy là người thanh liêm, nhân từ, đức hạnh, tại sao lại mê theo tà đạo, hãy
nghe ta mà bỏ đạo đó đi.
Cha Quý trả lời:
- Dạ, thưa quan, tôi là người giảng dạy đạo này, sao lại có thể bỏ đạo cho
được? Và nữa, đây là chính đạo, vì chỉ dạy những điều tốt lành, chứ không phải là
tà đạo như quan hiểu lầm đâu.
Quan ra lệnh tống giam cha và sau đó dùng nhiều phương kế dụ dỗ, đe nạt,
tra tấn, hòng làm thay đổi lập trường của cha. Nhưng cha vẫn một lòng trung
kiên với chính đạo. Sau cùng, quan thảo bản án trảm quyết gửi về kinh đô. Bảy
tháng trong ngục, cha Quý động viên các bạn tù, cử hành bí tích, nguyện ngắm
và đọc kinh Mân Côi với họ. Một số giáo hữu đến thăm cha, có cả linh mục bản
quốc cải trang để vào giải tội và cho cha rước Thánh Thể.
Tình thương thân mẫu.
Đã sống trong cảnh tù ngục, cha Quý vẫn tưởng nhớ đến thân mẫu của mình
(thân phụ đã qua đời). Cha gửi thư kính thăm và báo tin cho thân mẫu biết tin
mình sắp được phúc tử đạo:
“
Ký vụ thân mẫu đôi chữ tường tri Kể từ ngày con vâng lệnh ra đi Lòng lã chã lệ
rơi luồng lụy
Ngỡ tới đây hành công biện sự Một hai tháng về viếng từ thân
Ai ngờ rầy sớm tách lìa phân
Trời cùng nước không hề vầy hiệp Hễ đạo làm tôi đua giữ lời răn dạy Cho nên con
vâng lệnh chỉ sai
Đàng xa xôi cách trở lại chi nài Miễn đặng tiếng vâng lời chịu lụy Khi con tới An
Giang tạm nghỉ
Gặp chân trời mở hội khoa thi
Nên con phải liều công ứng cử
Ấy là Thiên Chúa chi sổ nhiên
Nhơn tất tùng chi, nhi dĩ hỉ
Dầu trăng trói, gông cùm tù rạc Chén ngục hình xiềng tỏa chi nề Miễn vui lòng
cam chịu một bề
Cho trọn đạo trung thần hiếu tử
Chí con dốc đền công ơn Chúa
Dạ con làm báo nghĩa mẹ cha
Xin mẫu tử chớ chút phiền hà
Một cam chịu cho danh Cha cả sáng.
...
Nay thơ,
Thần tử Bá Đa Lộc Đoàn Công Quý, Linh mục bổn quốc.
”
Sau ba tiếng chuông ngân.
Ước vọng hiến dâng trọn ven cuộc đời cho Thiên Chúa của cha Phêrô Đoàn
Công Quý đã được chấp nhận. Ngày 30.07.1859, bản án trảm quyết cha được gửi
từ kinh đô về đến Châu Đốc cùng với bản án ông Emmanuel Lê văn Phụng.
Sáng hôn sau (31.07), cha Quý và ông Phụng hớn hở đi ra pháp trường ở xóm
Chà Và cùng với quan quân và giáo hữu. Người lính đi trước tay cầm tấm thẻ của
cha Quý và thỉnh thoảng đọc to:
“Tự Đức thập tam, An Giang tỉnh, kỷ vị niên, thất nguyệt, sơ nhị nhật.
Thẻ: đạo trưởng đoàn Công Quý, tùng gia đạo, tụ tập đạo đồ, đạo chủng, đạo
thư: Bất kháng quá khóa, vi phạm quốc pháp, luật hình trảm quyết.”
Đến nơi xử án, hai vị chứng nhân Chúa Kitô: cha Quý và ông Phụng, cùng
quỳ xuống cầu nguyện. Sau đó, cha Quý giải tội cho ông Phụng... Giờ hành xử đã
đến, 3 tiếng chuông vang lên giữa pháp trường, lý hình chém cha Quý 3 nhát
gươm. Đầu cha lìa khỏi thân mình và rơi xuống đất. Vị tử đạo từ giã cõi đời trở
về quê hương vĩnh cửu với tuổi đời 33, sau một năm thi hành chức vụ linh mục.
Thi hài vị tử đạo được an táng tại nhà thờ Năng Gù, sau được cải táng về chủng
viện Cù Lao Giêng năm 1959, nhân dịp bách chu niên cuộc tử đạo.
Đức Thánh Cha Piô X suy tôn Chân Phước cho cha Phêrô Đoàn Công Quý
ngày 02.05.1909.