Lời Chúa Hôm Nay Thứ Hai, 15/6/2026
Ngày kính Ngày 13 tháng 01

Chứng nhân đức tin

Thánh Luca PHẠM TRỌNG THÌN

Luca Phạm Trọng Thìn là con trai cụ Án Khám, sinh khoảng năm 1820 tại làng Quần Cống, xã Trà Lũ, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Như ta đã biết cụ Án Khảm, dưới mái nhà gia giáo và khá giả...

Chánh tổng 1820 - 1859 Xử giảo
Chức vụ Chánh tổng
Năm sinh - tử đạo 1820 - 1859
Ngày kính Ngày 13 tháng 01
Nơi tử đạo Bảy Mẫu
Cách tử đạo Xử giảo

Tiểu sử

Luca Phạm Trọng Thìn là con trai cụ Án Khám, sinh khoảng năm 1820 tại
làng Quần Cống, xã Trà Lũ, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Như ta đã biết
cụ Án Khảm, dưới mái nhà gia giáo và khá giả này, cậu Thìn đã lớn lên trong bầu
khí đạo đức, được ăn học thành người. Nhờ trí khôn thông minh nhanh nhẹn và
chăm chỉ chuyên cần, chẳng bao lâu anh đã “công thành danh toại”. Khi bị bắt,
ông Cai Thìn mới khoảng 40 tuổi và đang là Chánh tổng, vừa quyền thế vừa uy
tín. Thực ra, khi mới lên chức vụ này, vì giao tiếp với quan lại nhiều, đã có thời
kỳ ông có vợ nhỏ là cô Trung người Trà Lũ, nên thờ ơ việc đạo nghĩa (vợ chính
ông Cai Thìn là bà Maria Tâm). Nhưng sau nhờ lời khuyên của thân phụ, nhất là
của cha giải tội, ông đã thành tâm sám hối. Từ đó, ông đã trở thành một mẫu
gương thánh thiện, một gia trưởng và hội viên dòng ba Đaminh đạo đức, một thủ
lãnh đáng tin cậy.
Năm 1858, tình hình bắt đạo đang gia tăng, và liên quân Pháp - Tây Ban Nha
đang đe dọa dân Việt tại Đà Nẵng, vua Tự Đức thêm phẫn nộ ra lệnh cho quan
quân triệt để thi hành các sắc chỉ nhắm vào đạo Gia -Tô. Nhưng thực tế, việc thi
hành này lệ thuộc vào các quan địa phương có sốt sắng hay không. Lợi dụng

điều đó, Đức cha Sampedro Xuyên đã ủy thác cho Cai Tả và Cai Thìn trọng
trách sứ giả hòa bình, vì cũng thuộc thành phần lãnh đạo, dễ dàng tiếp xúc với
cấp trên.
Hiểu ý Đức cha và nắm vững tình hình các tín hữu Quần Cống, hai ông đã
đến gặp trực tiếp Tổng đốc Nam Định, xin ông nương tay cho các tín hữu được
bình an và hứa kêu gọi dân chúng trung thành với Đức Vua. Cuộc thương thuyết
sắp thành công, nhưng không ngờ lúc ấy tại Cao Xá, một người vì bất mãn với
chính sách của nhà vua, đã xúi giục một nhóm người nổi loạn chống lại các quan
địa phương. Thế là vị Tổng đốc liền đổi ý, ra lệnh tiếp tục truy lùng các thừa sai,
các đạo trưởng và các giáo hữu có uy tín trong dân. Quan kết án Cai Tả và Cai
Thìn là lừa dối và tìm dịp để bắt hai ông. Chúng ta sẽ biết cơ hội để quan thực
hiện ý đồ đó trong phần sau.
Ba lần ra trước tòa, cả ba lần hai ông đều cương quyết không bước qua Thập
Giá, dù bị dọa nạt, đánh đập. Khi quan yêu cầu hai ông viết những suy nghĩ của
mình lên giấy, Cai Thìn đã viết bản tuyên xưng đức tin rõ rệt và can đảm sau:

Tôi là một Kitô hữu, tôi sẵn sàng chấp nhận mọi cực hình, thậm chí cả cái chết
đau đớn nhất, hơn là vi phạm một lỗi dù rất nhỏ trong đạo tôi thờ. Chính tay tôi viết
điều này. Luca Thìn.

Ông Cai Tả không những cương quyết không xúc phạm Thánh Giá, ông còn
khuyên bảo mọi người đừng phạm thứ tội mà ông gọi “ghê tởm” đó.
Nếu Đức Giêsu, Hoàng Tử Bình An đã dùng Thánh Giá khổ nhục để hòa giải
nhân loại bạc bẽo với Chúa Cha thì cuối cùng, hai ông Cai Tả và Cai Thìn sẽ mãi
mãi là sứ giả hòa bình bằng cái chết, để chứng tỏ lòng mình luôn trung tín với
Thiên Chúa và trung thành với Giáo Hội.
Năm 1858 khởi đầu cho giai đoạn thứ năm cuộc bách hại đạo gay gắt nhất
trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam. Nhà vua treo giải thưởng xứng đáng cho
những ai tố cáo nơi trú ẩn của các vị thừa sai Âu Châu, và ngược lại sẽ trừng trị

đích đáng những kẻ chứa chấp họ. Thế là các ngài phải nay đây mai đó, trốn từ
làng này qua làng khác. Quần Cống là một nơi ẩn trốn khá an toàn, vì các chức
sắc trong làng là người Công Giáo và chính họ sẵn sàng đón tiếp các ngài. Đức
cha Sampedrô Xuyên, Đại diện Tông tòa địa phận Trung dự đoán có thể bị bắt
bất ngờ, đã chủ phong Giám mục phó cho Đức cha Valentinô Vinh ngày 14.06
tại Ninh Cường, hai cha Riãno Hòa và Carreras Hiển là phụ phong. Sau đó, cả
bốn vị đến ẩn tại làng Quần Cống, trọ tại nhà cụ Án Khảm, Cai Tả và Nhiêu
Côn.
Quan Án sát Nam Định được mật báo làng Quần Cống chứa chấp Tây dương
đạo trưởng, liền huy động quân lính đến vây bắt. Nhưng cụ Án Khảm kịp biết
tin, vội vàng tìm cách đưa các vị thừa sai trốn khỏi làng. Đức cha Vinh và hai linh
mục qua làng Trà Lũ. Đức cha Xuyên đi qua Kiên Lao (ngày 08.07 mới bị bắt).
Sau khi các thừa sai đã đi xa, cụ cho mõ làng đi trước, đích thân cầm roi đi sau,
bắt mõ làng rao lớn tiếng: “Trình quan viên làng nước, có lệnh cụ Án truyền
rằng: Người nào quá khóa phải phạt ba roi và bị đuổi ra khỏi làng.” Rồi cụ tụ tập
dân lại khích lệ họ.
Sau đó, quan quân ùa vào làng, họ bắt toàn thể dân làng tập trung lại, rồi gọi
cụ Án Khảm ra trình diện và nói:
- Mau nộp ngay lập tức các đạo trưởng Tây dương và bản quốc, cũng như
bọn thầy giảng lẩn trốn trong làng. Nếu bất tuân, lão sẽ bị bắt, bị tịch thu tài sản,
nhà cửa sẽ bị thiêu hủy, còn chính lão sẽ bị kết tội chống cưỡng nhà vua.
Cụ Án Khảm hết sức bình tĩnh vì biết chắc các thừa sai đã trốn xa rồi, Cụ
mạnh bạo trả lời:
- Đúng, đạo chúng tôi có các đạo trưởng, nhưng các ngài ở đâu, làm sao
chúng tôi biết được. Xin quan cứ tự do lục soát, nếu tìm thấy vị nào trong làng
thì quan muốn làm gì cũng được.
Thế là quân lính chia nhau lục soát khắp mọi nhà, dĩ nhiên là không thể thấy

một linh mục nào. Nhưng lính lại phát hiện được một số tượng ảnh, áo lễ, nên
chủ nhà này bị kết tội là chứa chấp đạo trưởng. Cụ Án liền đứng ra nhận là mình
đã mua những thứ đó. Tuy vậy, quan vẫn ra lệnh bắt trói cả nhà.
Trở lại nơi tập trung dân làng, quan Án sát cho đặt một Thánh giá ngay giữa
sân, rồi bắt mọi người lần lượt bước qua. Nhưng quan đã thất bại, dù lính có đi
tới đi lui đe dọa, toàn thể dân làng hôm đó không một ai bước qua Thánh Giá.
Một bô lão có lẽ vì quá sợ, run rẩy tiến lên vài bước, định thi hành lệnh quan,
nhưng cụ Án nhanh chân hơn cản lại và khiển trách.
Viên quan tức giận quát lên rằng:
- Ta sẽ mất chức, nếu không kết tội được Án Khảm và bọn người vô phúc
này.
Thế rồi quan sai bắt trói Án Khảm, Cai Tả và Cai Thìn cùng một số người,
rồi giải về Nam Định. Riêng cụ Án được chở đi trong thuyền của quan.
Chúng tôi được nước Thiên Đàng.
Về tới Nam Định, hai cha con cụ Án Khảm được gặp nhau trong những lần
ra tòa, và sau này được giam chung. Hai cha con vui mừng và xúc động khuyến
khích nhau chịu khổ vì lòng mến Chúa Kitô.
Tất cả những tù nhân Quần Cống hẹn với nhau quyết tâm trung thành với
đức tin, dù phải hy sinh mạng sống. Riêng cụ Án Khảm nhiều lần đại diện cả
nhóm trả lời với quan, đã tìm cách giải thích giáo lý trong đạo.
Một hôm, sau khi bắt được Đức cha Xuyên, quan cho dẫn ba ông đến trước
mặt Đức cha. Các ông kính cẩn chào hỏi và không giấu được niềm vui gặp lại vị
chủ chăn của mình.
Thấy thế, quan phỏng đoán và kết tội các ông chứa chấp vị thừa sai này. Tuy
thực sự Đức cha đã từng ở nhà mình, cụ Án Khảm tìm cách trả lời chung chung:
“Là người tín hữu, chúng tôi tôn kính và yêu mến bất cứ một linh mục nào, dù
chưa hề quen biết.”

Sau bốn tháng rưỡi bị giam, một hôm quan báo cho biết là cả ba vị sẽ bị kết
án xử giáo. Ông Cai Thìn hỏi lại án đã kết tội gì, quan cho hay là tội chống lại
nhà vua. Ông Thìn cực lực phản đối. Cuối cùng, theo đề nghị của ông, bản án
được viết thêm bốn chữ “bất khẳng quá khóa”, nghĩa là tội không chịu bước qua
Thập giá. Các ông vui mừng hân hoan vì thực sự được chết cho Đức Kitô. Và
trong những ngày còn lại, các ông chuẩn bị sốt sắng đón chờ ngày lãnh nhận
hồng phúc tử đạo.
Ba vị chứng nhân đức tin đã cảm nghiệm sâu xa lời Đức Kitô chúc phúc cho
những người bị bách hại vì danh Ngài. Đối với ba vị, bị bắt chịu khổ nhục, bị giết
vì danh Đức Kitô là niềm vinh phúc lớn lao. Các vị đã hân hoan đón chờ nó,
đồng thời khích lệ an ủi các tín hữu khác. Và khi nghe báo giờ xử tử đã tới, cụ Án
Khảm vui vẻ nói với mọi người: “Cha con chúng tôi hôm nay được nước Thiên
Đàng”. Cả ba vị đã sẵn sàng giã từ trần gian để về hợp đoàn với hàng ngũ các
Thánh Tử Đạo, và mở rộng đôi tay đón nhận phần thưởng vinh phúc Chúa đã
hứa ban cho những tôi trung của Ngài.
Ngày 13.01.1859, ngoài ba vị Án Khảm, Cai Tả và Cai Thìn, còn có bảy giáo
hữu làng Quần Cống khác được đưa ra pháp trường Bảy Mẫu, Nam Định. Trên
đường đi, các vị lớn tiếng đọc kinh. Đến nơi xử, các vị tiếp tục đọc kinh Tin,
Cậy, Mến và nhiều lần kinh Ăn Năn Tội chung với nhau, rồi lớn tiếng kêu tên
Chúa Giêsu.
Quân lính mạnh tay xô các ngài té ngửa trên đất, rồi trói chân tay từng người
vào cọc đã chôn sẵn. Mỗi vị bị hai người lính cầm hai đầu dây thừng tròng qua
cổ và kéo thật mạnh cho đến khi tắt thở. Các tín hữu làng Quần Cống rước thi
thể các vị đưa về quê mình, và tổ chức an táng trọng thể.
Đức Thánh Cha Piô XII đã suy tôn ba anh hùng tử đạo: Đaminh Phạm Trọng
Khảm, Giuse Phạm Trọng Tả và Luca Phạm Trọng Thìn lên bậc Chân Phước
ngày 29.04. 1951.