Chứng nhân đức tin
Thánh Phanxicô JACCARD PHAN (NINH)
Thánh Phanxicô JACCARD PHAN (NINH), Linh mục Thừa Sai Paris (1799 – 1838) Một cuộc sống bi hùng. Nếu so sánh những cuộc tử đạo như những vở bi hùng kịch thì cuộc tử đạo của thánh Phanxicô Jaccard Phan là một...
Tiểu sử
Thánh Phanxicô JACCARD PHAN (NINH), Linh mục Thừa Sai Paris
(1799 – 1838)
Một cuộc sống bi hùng.
Nếu so sánh những cuộc tử đạo như những vở bi hùng kịch thì cuộc tử đạo
của thánh Phanxicô Jaccard Phan là một trong những bi hùng kịch hùng tráng
nhất: mười năm tù khi rộng khi ngặt, với 20 tháng lưu đày gian khổ và 3 bản án
tử hình. Giữa những khổ ái đó, nổi bật lên chân dung một người hùng quả cảm.
Ngài đã chiến thắng được đói khát và sốt rét, đã trung thành tuyệt đối với chân
lý của Tin Mừng là tha thứ và phục vụ kẻ làm hại mình. Gan lì trước nghịch
cảnh, từ chối mọi tiện nghi, như nhận xét của Đức cha Cuénot Thể: “Con người
không còn gì để mất đó, đã luôn tiến về phía trước để chinh phục tha nhân.”
Chí khí chàng nông dân.
Chào đời ngày 06.09.1799 tại Onion thuộc miền Savoie nước Pháp, trong
một gia đình nông dân nghèo nhưng đạo đức, cậu Phanxicô Jaccard thuở nhỏ
ham chơi hơn ham học. Còn gì lý thú cho bằng chạy nhảy giữa cánh đồng xanh
tươi bát ngát. Khi được cha mẹ gửi vào chủng viện Mélan, cậu Jaccard luôn là
học sinh “đội sổ” nên đâm ra chán nản và trốn về gia đình. Nhưng sau, nhờ bạn
bè và thân nhân khích lệ, đàng khác vì ước muốn làm linh mục, cậu xin trở lại
chủng viện, cậu hứa với mọi người sẽ cố gắng tới cùng.
Quả thực Jaccard đã giữ lời hứa. Với sự chuyên cần và nỗ lực, anh hoàn thành
chương trình chủng viện Mélan, rồi được lên đại chủng viện địa phận Chambery
năm 1819. Hai năm sau, thầy Jaccard xin gia nhập Hội Thừa Sai Paris, và thụ
phong linh mục ngày 15.03.1823. Liền đó, cha Jaccard được đề cử vào chức vụ
giám đốc đại chủng viện. Nhưng cha thẳng thắn trình bày với các Bề trên: “Con
tình nguyện vào đây để truyền giáo phương xa, chớ không phải ở thành phố
Paris này.”
Thế là ngày 10.07.1823, cha Jaccard xuống tàu tại cảng Bordeux giã từ quê
hương yêu dấu. Ngày 25.11.1824 tàu của cha cập bến Macao, nhưng mãi tháng
02. 1826, vị thừa sai mới đến được địa phận Đàng Trong. Sau một thời gian học
tiếng Việt ở chủng viện An Ninh, cha lấy tên là Phan, hoạt động tại Nhu Lý, Phủ
Cam, rồi làm giám đốc chủng viện An Ninh (Quảng Trị).
Tinh thần phục vụ hết mình.
Tháng 06.1827, vua Minh Mạng tập trung về Huế ba vị thừa sai Tabert Từ,
Gagelin Kính và Odorico Phương, viện cớ cần người thông dịch và dịch sách. Ba
tháng đầu, các cha được đối xử tử tế, có thể làm việc mục vụ cho giáo hữu Huế,
nhưng các ngài như bị giam lỏng tại Cung Quán, lúc nào cũng có lính gác, đi đâu
thì có ba lính đi kèm. Đến cuối năm, nhờ có tả quân Lê Văn Duyệt can thiệp với
vua, ba vị thừa sai mới được thả về. Còn riêng cha Phan, tháng 07.1828, quân
lính mang trát son, cáng điều đến triệu cha về kinh đô. Ngài ở Cung Quán dịch
các tài liệu tiếng Pháp ra tiếng Việt. Thấy ở Cung Quán như bị “bó tay buộc
chân” không làm việc tông đồ được, cha Phan liền xin vua đến ở họ Dương Sơn
cách kinh thành 15 cây số, để vừa giúp các tín hữu vừa dịch các sách cho hoàng
cung. Giai đoạn này cha đã dịch các sách về Napoléon, về việc chinh phục của
Anh ở Ấn Độ, về lịch sử Âu Mỹ, và dạy tiếng Pháp cho nhiều người vua gửi tới.
Vua muốn ban chức lộc triều đình, nhưng cha từ chối không nhận.
Được biết vua Minh Mạng sắp mừng lễ Tứ Tuần, cha xin phép đứng ra tổ
chức tám ngày liên tiếp, cầu nguyện cho Hoàng đế bằng những nghi thức long
trọng. Ngoài các tín hữu, số lương dân đến tham dự đông đảo như ngày hội.
Nhiều người nhân dịp này thêm quý mến đạo, trong đó có một số quan đại thần
và bà chị cả của Đức Vua.
Người lính của vua Minh Mạng.
Tháng 09.1831, làng Dương Sơn giao cho cha Phan phụ trách bị dân làng Cổ
Lão gây chuyện và tố cáo về chuyện chiếm đất. Đến sau vì không có bằng cớ, họ
đổi qua tố cáo về việc theo đạo. Lập tức 73 người bị giam tù, mỗi người lãnh 100
roi đòn, viên phó lý bị lưu đầy. Lý trưởng và cha Phan bị án tử hình. Riêng với
cha Phan, vua Minh Mạng tỏ vẻ nhân từ hơn, đổi qua án sung quân, bắt nhập
ngũ trong quân đội hoàng gia, và được điệu về giam lỏng ở Cung Quán để tiếp
tục dịch sách và thư từ.
Giai đoạn này cha Phan nhiều lần tiếp xúc với vua Minh Mạng. Chính vua
nhờ cắt nghĩa các tranh ảnh Cựu Ước và Tân Ước... Vị tông đồ của Chúa liền
tranh thủ giải thích cho vua hiểu về giáo lý trong đạo, về Thiên Chúa sáng tạo,
linh hồn bất tử và thưởng phạt đời sau. Một lần cha Phan đánh bạo gửi cho Vua
cuốn giáo lý dành cho người xin học đạo. Đối lại, nhà vua sai quan Thượng thư
bộ Lễ đến bắt cha phải đốt hết các sách tôn giáo đó, nhưng cha cương quyết từ
chối. Quan nói:
- Tôi tha cho ông, nhưng khi ra trước hội đồng các quan, ông phải nói đã gửi
sách và đồ lễ về Tây rồi, và hứa không giảng đạo nữa.
Cha đáp:
- Thưa quan, quan biết là đạo cấm nói dối, còn việc ngừng giảng đạo, tôi
không thể vâng được.
Viên quan tiếp:
- Vậy ông sẽ bị án xử tử.
Cha trả lời:
- Tôi đã bị lên án một lần, có lên án lần nữa cũng chẳng sao.
Vua Minh Mạng biết chuyện nhưng lờ đi vì chưa đến lúc, chỉ ra lệnh cho
người canh gác cha nghiêm ngặt hơn trước.
Người tù lưu đày bất khuất.
Tháng Giêng 1833, sau sắc lệnh cấm đạo toàn quốc, cha Phan có thêm người
bạn đồng hành, cha Odorico Phương dòng Phanxicô mới bị bắt ở Cái Nhum.
Mỗi đêm, hai cha âm thầm dâng lễ với nhau ở Cung Quán, đồ lễ giấu ở sàn nhà.
Từ đây hai vị sống bên nhau trong một năm rưỡi, cùng chia sẻ ngọt bùi đắng cay,
cùng đón nhận người bạn tù đặc biệt, cha Gagelin Kính và hiệp thông với hy lễ
tử đạo của ngài. Nhiều tuần lễ liền, mỗi buổi sáng khi thức dậy, hai vị lại giúp
nhau chuẩn bị dọn mình lãnh phúc tử đạo, nhưng giờ Chúa chưa đến.
Thời gian này, miền Nam có cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi. Vua Minh
Mạng nghe đồn các tín hữu tham gia rất đông, nên lo sợ và thảo một lá thư dụ
hàng, đưa cho thừa sai ký. Hai cha thức suốt một đêm để viết một lá thư khác
kêu gọi các anh em tín hữu. Theo lá thư, việc chống lại triều đình chỉ có hại cho
đạo, và Tin Mừng không bao giờ chấp nhận việc huynh đệ tương tàn. Thế nhưng
số tín hữu theo Lê Văn Khôi thực tế không đông nên lá thư này không mang lại
hiệu quả bao nhiêu.
“Giận cá chém thớt”, vua Minh Mạng nổi cơn thịnh nộ, truyền xử tử hai vị
giáo sĩ. Nhưng có sự can thiệp của Hoàng Thái hậu Thuận Thiên. Bà không
muốn con làm điều thất nhân ác đức, và nhắc con coi chừng nước Pháp trả thù.
Thế là bản án được đổi thành lưu đày chung thân tại Lao Bảo (ở biên giới Lào),
nơi rừng sâu nước độc. Sau mười ngày trèo non lội suối, ngày 12.12.1833, hai
cha đến đất lưu đày, phải sống trong trại tù có rào chắn và chông nhọn chung
quanh. Niềm an ủi lớn lao của hai cha là vẫn được nhiều tín hữu viếng thăm tiếp
tế lương thực.
Nhưng chưa được một tháng, Vua thay viên cai ngục khó tính hơn, và nhắn
lời dụ dỗ hai vị xuất giáo. Việc dụ dỗ thất bại, viên cai ngục liền chuyển hai cha
sang trại cấm cố, cho giam riêng trong một túp lều chật hẹp, bớt phần cơm và
cấm tiếp tế. Thêm vào đó, ông còn cho tịch thu toàn bộ sách kinh, giấy viết. Cha
Odorico Phương hay nói đùa: “Chúa thấy tôi làm thừa sai vụng về nên cho đổi
qua nghề làm bếp. Tôi là đầu bếp, cha Jaccard rửa chén. Nhưng vấn đề là không
có gì bỏ vào nồi nấu thôi.”
Ngoài nắm cơm mỗi ngày mỗi nhỏ bớt, hai cha phải đi hái hoa cỏ dại, chuối
xanh về luộc với một ít muối để đủ sống qua ngày. Đời sống kham khổ, đói khát
và cơn bệnh sốt rét ác tính đã cướp đi sinh mạng của người bạn của cha Phan.
Cha Odorico đã từ trần ngày 25.05.1834 sau một tuần liệt giường. Còn lại một
mình cha Phan đã sốt sắng cách tài tình cho tròn 20 tháng lưu đày. Cũng sốt rét
cũng kiết lỵ, nhưng ngài đã khuất phục được chúng. Không những thế, cha vẫn
tiếp tục làm việc tông đồ trong trại, học tiếng Lào để nếu có cơ hội sẽ qua đó
truyền giáo. Cha cũng soạn được một cuốn ngữ vựng tiếng Chàm, nhờ sự hỗ trợ
của các bạn tù người Chàm.
Vắt chanh bỏ vỏ.
Đến tháng 09.1835, vì cần người, vua Minh Mạng đưa cha về giam ở Cam Lộ
(Quảng Trị) để làm giáo sư. Vua gửi đến sáu thanh niên học tiếng Pháp nhưng
cấm không được nói chuyện về đạo. Vua nhờ cha hướng dẫn về địa lý và lịch sử
Âu Mỹ, giải thích các phong tục, tập quán và tục lệ của họ. Đặc biệt cha giúp vua
tìm hiểu về Âu Châu, nhất là luật pháp nước Nhật. Dầu bận rộn vất vả, nhưng
cha rất tận tụy với Vua, vì như cha nói: “Tôi muốn chứng tỏ phải dùng điều thiện
để thắng điều ác.”
Ba năm trời ở Cam Lộ, niềm vui lớn nhất của cha Phan là được dâng lễ trong
ngục. Một tấm ván bắc qua hai chiếc ghế làm bàn thờ, cha dâng lễ vào giữa đêm
khuya, rồi thu xếp dọn dẹp ngay sau đó. Vì được quan quân kính nể, cha có thể
trốn thoát dễ dàng. Chính Đức cha Thể cũng gợi ý điều đó, nhưng cha không
thực hiện, vì cha biết quan quân sẽ truy lùng gắt gao. Việc truy lùng đó sẽ làm
hại các tín hữu và lỡ ra nhiều người sẽ bị bắt vì mình.
Đầu năm 1838, một biến cố lớn làm thay đổi hoàn cảnh cha Phan. Số là khi
triệt hạ chủng viện An Ninh gần Di Loan, cha giám đốc Kandalh Kim chạy thoát
lên miền núi, vua liền trút cơn thịnh nộ lên cha Phan “kẻ thông đồng với tội
nhân qua thư từ”. Ngày 17.03, cha bị trói, hỏi cung rồi bị mang gông xiềng áp
giải về Quảng Trị.
Đường lên núi Sọ.
Tại Quảng Trị, quan cho căng nọc vị thừa sai và cho đánh từ 9 giờ đến trưa,
nát nhiều chiếc roi, để bắt cha phải bỏ đạo. Cha trả lời: “Đạo của tôi không do
Đức Vua, nên tôi không buộc phải bỏ đạo theo ý Vua được.” Lần khác, cha bị tra
tấn bằng kìm nung đỏ kẹp vào đùi, thịt cháy khét, đau đớn vô cùng, nhưng cha
vẫn cương quyết không chối đạo.
Từ 18.07.1838, cha được giam chung với chủng sinh Tôma Thiện. Hai cha
con tạ ơn Chúa, và cùng nhau nguyện cầu xin Ngài trợ giúp. Bản án từ Quảng
Trị gửi vào kinh đô xin xử trảm, nhưng vua Minh Mang sửa thành xử giảo và ký
ngày 17.09. Sáng ngày 21.09.1838, quan quân dẫn hai cha con ra khỏi trại giam,
đến một ngọn đồi làng Nhan Biều (Quảng Trị). Tới nơi xử, hai cha con từ chối
bữa ăn ân huệ, và quỳ đối diện quay vào nhau cùng cầu nguyện. Theo ý cha
Phan, muốn thấy tận mắt sự trung thành của người môn sinh trẻ tuổi, nên quân
lính hành xử chủng sinh Tôma Thiện trước. Sau đó, vòng dây qua cổ vị giáo sĩ
rồi kéo mạnh hai đầu, đưa linh hồn ngài vào Thiên Quốc.
Bà mẹ của cha Phan khi hay biết, đã reo lên: “Thật là tin vui, gia đình ta có
một vị tử đạo.” Bà nói: “Xin chúc tụng Chúa. Tôi vẫn sợ sẽ buồn khổ biết bao,
nếu con tôi bị khuất phục trước gian khổ, trước cực hình.” Thi hài hai vị tử đạo
được chôn cất ngay tại pháp trường, đến năm 1847 được cải táng về chủng viện
Thừa Sai Paris.
Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn linh mục Phanxicô Jaccard Phan lên bậc
Chân Phước ngày 27.05.1900.