Lời Chúa Hôm Nay Thứ Hai, 15/6/2026
Ngày kính Ngày 21 tháng 12

Chứng nhân đức tin

Thánh Anrê TRẦN AN DŨNG LẠC

Thánh Anrê TRẦN AN DŨNG LẠC, Linh mục (1795 – 1839) Theo gương thánh Phêrô... “Quo vadis, Domine?” (Lạy Thầy, Thầy đi đâu vậy?) Trên đường chạy trốn cơn bách hại khủng khiếp của bạo chúa Nero đang giáng xuống kinh thành...

Linh mục 1795 - 1839 Xử trảm
Chức vụ Linh mục
Năm sinh - tử đạo 1795 - 1839
Ngày kính Ngày 21 tháng 12
Cách tử đạo Xử trảm

Tiểu sử

Thánh Anrê TRẦN AN DŨNG LẠC, Linh mục (1795 – 1839)
Theo gương thánh Phêrô...
“Quo vadis, Domine?” (Lạy Thầy, Thầy đi đâu vậy?)
Trên đường chạy trốn cơn bách hại khủng khiếp của bạo chúa Nero đang
giáng xuống kinh thành Rôma, vị tông đồ trưởng Phêrô đã bàng hoàng thốt lên
câu hỏi trên khi bất ngờ gặp Chúa Giêsu vác Thập Giá đi ngược chiều với mình.
Sau đó là khoảng khắc im lặng... Sự im lặng tưởng chừng như đến muôn đời
sẽ không bao giờ có giây phút nào im lặng như thế. Phêrô như đọc thấy câu trả
lời trong ánh mắt của Đức Kitô, có một chút gì giống ánh mắt Ngài đã nhìn
mình sau ba lần chối Chúa. Và trong bầu khí thinh lặng đó, chợt vọng tới tai ông
giọng nói buồn bã nhưng ngọt ngào: “Khi anh rời bỏ dân ta, Ta phải đến Rôma
để chịu đóng đinh một lần nữa”. Phêrô lặng người đi và chợt hiểu...
Vị sứ đồ đã ra đi để xa lánh cơn điên cuồng của một bạo chúa, vì những lời
nài nỉ chí tình chí thiết của đoàn tín hữu. Họ coi ngài là sức mạnh, là hơi thở, là
chỗ dựa. Cần phải sống để tiếp tục mưu ích cho đoàn chiên. Giờ đây, Phêrô được
ôn lại bài học vĩ đại nhất của vị Tôn sư Giêsu, người thợ mộc làng Nazarét đã
chết gục vào tuổi 33 trên Thập Giá để cứu chuộc nhân loại.
Thế là trong cái khoảnh khắc kỳ diệu đó, thánh Phêrô chợt nhớ ra. Để rồi
thay vì những bước chân rời rã, do dự chạy trốn thì giờ đây ngài bước một cách
mạnh mẽ, dứt khoát quay lại... Để có thể trở nên giống Thầy mình. Từ đó, trên

tảng đá Phêrô, Rôma trở nên kinh thành muôn thuở. Đâu có ai thời đó nghĩ ra
như thế. Vâng, đâu có ai thời đó đã hiểu được điều ấy.
Sau lần bị bắt thứ ba, cha Anrê Dũng Lạc như cảm nhận được bài học của
thánh Phêrô xưa. Ý nghĩ con người không hẳn đã phù hợp với ý Chúa. Ngài xin
tín hữu đừng chụôc ngài nữa, ngài đã chấp nhận hy sinh chính bản thân để trở
nên một ngọn đèn, góp lửa với nhiều ngọn đèn khác làm chứng cho Chúa trên
quê hương yêu dấu này.
Ba lần bị bắt.
Sinh ra trong một gia đình ngoại giáo ở Bắc Ninh năm 1795, Trần An Dũng
theo cha mẹ vào Kẻ Chợ, nay là Hà Nội. Tại đây vì nhà nghèo, cậu được gán cho
một thầy giảng nuôi nấng dạy dỗ và rửa tội lấy tên thánh là Anrê. Ít lâu sau, cậu
Dũng xin vào chủng vịên Vĩnh Trị, ở với cha Chính Lan. Ngay từ đó, cậu Dũng
lại siêng năng cần mẫn, có khiếu về thơ phú và giao tiếp với mọi người cách lịch
thiệp hòa nhã. Có người nói rằng cậu chỉ đọc qua một đoạn sách hai lần là đã
thuộc lòng.
Sau 10 năm làm thầy giảng và ba năm thần học, ngày 15.03.1823, thầy Dũng
được lãnh chức linh mục (cùng với thánh Ngân và Nghi), rồi được bổ nhiệm làm
phó xứ Đồng Chuối giúp cha Khiết. Sau đó về giúp cha Thi ba năm ở xứ Đoài,
rồi lại giúp cha Thuyết ở Sơn Miêng. Cuối cùng, khi cha làm chánh xứ Kẻ Đầm
thì bị bắt. Suốt cuộc đời linh mục, cha Dũng sống nhiệm nhặt. Ngoài những
ngày ăn chay theo luật của Giáo Hội, cha còn giữ chay suốt Mùa Chay, và nhiều
khi cả các thứ sáu, thứ bảy quanh năm. Thường xuyên cha chỉ dùng những thức
ăn đơn giản. Cha Dũng hết mình với nhiệm vụ chủ chăn, chẳng khi nào thấy cha
ngại ngùng việc gì. Cha có lòng ưu ái đặc biệt với người nghèo. Có được của cải
gì, cha chia sẻ cho họ hầu hết.
Khi lệnh bách hại của vua Minh Mạng trở nên gay gắt qua chiếu chỉ toàn
quốc ngày 06.01.1833, cha phải ẩn náu tại các nhà bổn đạo, sau trốn lên Kẻ Roi

và lập nhà xứ ở đó. Một hôm, cha dâng lễ vừa xong thì quân lính ập tới, cha liền
cởi áo lễ và ngồi lẫn trong tín hữu. Lính bắt cha như một trong 30 giáo hữu hôm
đó, vì quan quân không biết cha là linh mục. Ông Tổng Thìn bỏ ra sáu nén bạc,
nhận cha là thân nhân đi dự lễ để chuộc về. Từ đấy cha đổi tên là Lạc.
Lần thứ hai cha bị bắt khi đến Kẻ Sông xưng tội với cha Thi theo thói quen
hàng tháng. Lý trưởng Pháp bắt được hai linh mục và mặc cả với giáo hữu phải
chuộc với giá 200 quan. Các tín hữu gom góp được một trăm quan nên viên Lý
trưởng chỉ tha cha Lạc. Thế nhưng ngay trên đường về, vì gặp mưa gió, thuyền
cha phải ghé vào bờ. Căn nhà cha đang trú đang bị quân lính khám xét. Thế là
cha bị bắt lần thứ ba và bị giải lên huyện Bình Lục cùng với cha Thi.
Một lần nữa, giáo hữu cùng Đức cha Retord Liêu tìm cách chuộc hai cha về,
nhưng lần này cha Lạc thấy ý Chúa đã định cho mình, ngài nhắn về với Đức cha
câu chuyện thánh Phêrô hai lần thoát khỏi ngục, đến lần thứ ba, Chúa Giêsu đã
yêu cầu ở lại tử đạo tại Rôma, và xin các tín hữu đừng lo liệu tiền chuộc làm chi
nữa.
Được cảm tình mọi giới.
Quan huyện Bình Lục đối xử với hai linh mục một cách tử tế. Ông truyền
dọn cơm cho hai cha bằng mâm bát của mình, bắt Lý trưởng trả lại quần áo đã
tịch thu và thanh minh rằng:
- Phép triều đình cấm đạo và giết các cụ, chứ không phải tôi. Tôi không có
tội gì trong việc này.
Ba ngày sau, quan huyện đưa hai cha xuống thuyền chuyển về Hà Nội. Các
tín hữu thương tiếc đi theo rất đông, hoặc bằng thuyền, hoặc đi bộ trên bờ. Quan
lấy làm lạ hỏi:
- Đạo trưởng có cái gì mà dân chúng thương tiếc quá vậy?
Một phụ nữ đứng gần đó đáp lại:
- Thưa quan, các cha dạy chúng tôi những điều hay lẽ phải. Dạy chồng hiền

lành, đừng cờ bạc rượu chè. Dạy vợ sống thuận thảo với chồng theo như giáo lý
trong đạo.
Hai vị linh mục khi thấy nhiều người khóc lóc tiễn đưa mình, đã dừng lại an
ủi và khích lệ họ sống đạo cho tốt đẹp.
Tại Hà Nội, sau mấy lần tra hỏi, và dọa nạt hai vị chứng nhân Đức Kitô
không thành công, các quan làm án xin vua xử trảm. Thời gian trong tù, hai cha
chiếm được tình cảm của lính gác, được tôn trọng và đối xử tử tế. Khi nhận được
quà tiếp tế, hai cha chia cho lính canh, chỉ giữ lại những thứ tối thiểu. Mỗi buổi
sáng và mỗi buổi tối, hai cha quỳ bên nhau cầu nguyện lâu giờ. Tuy các tín hữu
xin được phép đưa cơm vào tù mỗi ngày, hai cha vẫn tìm cách hãm mình dặn họ
đừng mang thịt hay cá làm chi, các ngài vẫn tiếp tục giữ chay ngày thứ hai, thứ
tư, thứ sáu và thứ bảy. Những ngày đó, hai cha ăn thật ít, vừa đủ.
Lễ Các Thánh (01.11.1839), linh mục Trân đưa Mình Thánh Chúa vào ngục.
Vừa thấy ngài, cha Lạc đã ra chào đón: “Xin chào bác, tôi đợi bác đã lâu vì hết
lương thực rồi”. Sau đó, cha cung kính rước lễ, và trao Mình Thánh cho cha già
Thi.
Cuối năm 1839, khi quân lính đến công bố lệnh xử án, hai cha vui vẻ đón
nhận bản án như một phần thưởng trọng hậu. Trên đường đến pháp trường, hai
cha yên lặng cầu nguyện. Lúc ra khỏi cổng thành, cha Lạc chắp tay lại, hát lớn
tiếng mấy câu Latinh chúc tụng Chúa. Trước phút hành quyết, người lý hình đến
nói với cha:
- Chúng tôi không biết các thầy tội gì, chúng tôi chỉ làm theo lệnh trên, xin
các thầy đừng chấp.
Cha Lạc tươi cười trả lời:
- Quan đã truyền anh cứ thi hành.
Sau đó, hai cha xin ít phút để cầu nguyện lần chót, rồi nghiêng đầu cho lý
hình chém.

Hai vị đã lãnh phúc tử đạo ngày 21.12.1839 tại bãi ngoài cửa Ô Cầu Giấy (Hà
Nội), giáp đường lên tỉnh Sơn Tây. Thi hài của cha Lạc được đưa về an táng tại
nhà bà Lý Quý gần đó.
Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn Chân Phước cho linh mục Anrê Trần An
Dũng Lạc ngày 27.05.1900.
Nhớ đến thánh Dũng Lạc, phải nhớ đến những vần thơ ngài tâm sự trong
thư viết trong ngục cho cha Thực rằng:
“Lạc này đã rõ chốn quân quan
Bút chép thơ này gởi thở than
Lòng nhớ bạn, nỗi còn vất vả
Dạ thương khách, chạy chữa yên hàn.
Đông qua tiết lại thì xuân tới
Khổ trảm mai sau hưởng phúc an
Làm kẻ anh hùng chi quản khó
Nguyện xin cùng gặp chốn Thiên đàng”

Thừa sai De la Motte Y được xếp vào các Đấng Đáng Kính năm 1857, chết rũ tù tại ngục Trấn Phủ.

Chân Phước Đường trong bản án ghi là Nguyễn Văn Đường, nhưng con cháu sau này xác định là họ
Trương. Có lẽ thầy khai khác đi để khỏi liên lụy đến họ hàng (Phạm Đình Khiêm, ĐMHCG, th.3,n. 1970, tr.
10 và 11).

Thơ trích trong Nguyễn Văn Tự, 42 Á Thánh Tử Đạo, tr. 76.