Chứng nhân đức tin
Thánh Valentinô BERRIO-OCHOA VINH
Thánh Valentinô BERRIO-OCHOA VINH, Giám mục dòng Đaminh (1827 – 1861) Đẹp như khúc tình ca. Cuộc đời thánh Valentinô Vinh đẹp như một bài thơ và hùng tráng như bản tình ca bất hủ.
Tiểu sử
Thánh Valentinô BERRIO-OCHOA VINH, Giám mục dòng Đaminh
(1827 – 1861)
Đẹp như khúc tình ca.
Cuộc đời thánh Valentinô Vinh đẹp như một bài thơ và hùng tráng như bản
tình ca bất hủ. Quả thật cuộc đời ngài chỉ vỏn vẹn có 34 năm với ba năm Giám
mục, không có nhiều thành quả lẫy lừng, nhưng đã là một thiên ca hùng tráng...
Cụôc đời ấy được dệt bằng biết bao biến cố thăng trầm, bao kỷ niệm gian khổ và
bao thắng vượt anh hùng. Với tinh thần đơn sơ của một người tràn đầy tình yêu
Chúa và tha nhân, ngài đã biến tất cả thành một giai điệu nên thơ. Tất cả những
nỗi vất vả đã được vị “Giám Mục Hầm Trú” này khoác cho chiếc áo tươi vui
bằng thái độ kiên cường, bằng tình yêu nhiệt thành và sự trung tín. Ngài biến
đổi chúng bằng những phút chiêm niệm sâu xa và bằng nụ cười bất diệt.
Nỗ lực tuổi trẻ.
Valentinô Berrio-Ochoa xuất thân trong một gia đình quí phái, đạo đức
nhưng lại nghèo. Sinh ngày 14.02.1827 tại làng Elorrio, địa phận Vich, nước Tây
Ban Nha. Cuộc đời Valentinô chịu ảnh hưởng rất nhiều của song thân. Cậu học
được nơi cha sự cần cù kiên nhẫn, và thừa hưởng nơi mẹ đức tin sống động, lòng
sùng kính Đức Maria và tính vui tươi hòa nhã với mọi người. Đặc biệt với mẫu
thân, Valentinô vẫn hàng ôm ấp mối tình thắm thiết cả khi đã làm Giám mục mà
chúng ta có thể thấy được, vẫn dạt dào trong các lá thư viết về cho bà.
Vì thân phụ thường đóng bàn ghế cho một nữ tu viện Đaminh trong vùng,
nên Valentinô được vào giúp lễ. Nhờ vậy, cậu có dịp tiếp xúc với cha linh hướng
của tu viện, một linh mục dòng Đaminh. Khi rảnh rỗi cậu đến gặp cha để nghe
kể chuyện về các vị thừa sai Đaminh tại Việt Nam, về những mẫu gương dấn
thân và những cuộc tử đạo anh hùng. Từ đó, cậu bé 12 tuổi ôm mãi trong lòng
giấc mộng vàng là được làm linh mục Đaminh và đến phục vụ mảnh đất Việt
Nam yêu dấu. Nhưng vì gia đình quá nghèo, cậu phải phấn đấu rất nhiều để biến
mộng ước thành hiện thực.
Sáu năm liền, Valentinô phải kết hợp ba chương trình: vừa làm mộc giúp
thân phụ, vừa trau dồi văn hóa phổ thông và xếp thêm giờ học Latinh. Theo
gương Đức Giêsu nơi xưởng mộc Nazareth xưa, cậu kiên nhẫn chờ đợi ý Chúa
được thể hiện. Năm 18 tuổi, nhờ sự giúp đỡ của một linh mục, cậu xin phép cha
mẹ gia nhập chủng viện Logrono. Tại đây, cậu được các giáo sư, các bề trên và bè
bạn quí mến. Mọi người ghi nhận nơi chàng thanh niên này tính chăm chỉ học
hành, một nếp sống đạo đức sâu xa, khổ chế với mình nhưng lại tươi vui với mọi
người. Đức Giám mục địa phận, khi kinh lý làng Elorrio ghé thăm gia đình anh,
đã nói với thân mẫu anh rằng: “Bà Maria ơi, có lẽ con bà sẽ làm đến Giám mục.”
Sau ba năm triết học với thành quả mỹ mãn, hè năm 1848, thầy Valentinô về
thăm gia đình, và thấy cha đã già yếu quá vất vả với công việc, thầy trở lại xin bề
trên sống ngoại trú, để vừa đi học thần học, vừa có thể giúp gia đình 30 tháng.
Hơn hai năm rưỡi đã trôi qua như thế, mãi tới khi theo đề nghị của một cha giáo
sư, Đức Giám mục cho thầy lãnh chức cắt tóc và đặt thầy làm linh hướng dự
khuyết của chủng viện. Đây là trường hợp rất họa hiếm nói lên uy tín của thầy.
Tuy còn là sinh viên mà đã được chọn vào một trách vụ thường dành cho những
linh mục lão thành đạo đức, nhiều kinh nghiệm.
Vị linh hướng đạo đức.
Lòng tín nhiệm thầy Valentinô của Đức cha Irigoyen ngày càng rõ rệt hơn,
khi ngài lần lượt trao ban chức năm, chức sáu và linh mục cho thầy chỉ trong
một năm (1851). Valentinô đã chuẩn bị xứng đáng, và trong niềm hân hoan khôn
tả, vị tân linh mục đã viết cho thân mẫu như sau: “
Mẹ yêu dấu của con, hôm qua,
ngày 14.08.1851, ngày mộng ước, ngày con được thụ phong linh mục... Con của mẹ giờ
đây đã được tình thương Chúa nhấc lên chức phẩm cao cả, đến nỗi các thiên thần cũng
phải run sợ...
” (thư 16).
Hơn hai năm tận tụy với chức vụ linh hướng đại chủng viện, cha Valentinô
vẫn ôm ấp giấc mộng vàng thuở thơ ấu. Sau khi bàn hỏi với cha linh hướng dòng
Tên tại Loyola, cha xin phép Giám mục qua dòng Đaminh. Lúc giã từ người
quen, có người hỏi cha:
- Cha đi đâu, và bao lâu mới trở lại?
Cha đáp:
- Tôi đi để quê tôi có người làm thánh.
Và cha đã khởi sự quyết định nên thánh đó bằng thái độ từ bỏ dứt khoát:
đường từ nhà đến tu viện Ocanã độ ba bốn ngày đường, cha quyết định đi bộ,
không giày dép, không tiền bạc. Hành trang duy nhất là cuốn sách nguyện. Sau
có người thấy tội nghiệp, tìm cách ép mời cha đi xe ngựa vài đoạn đường.
Ocanã, một học viện của tỉnh dòng Mân Côi từ năm 1830, nơi đã đào tạo hai
đức Cha An và Xuyên, khi đó đang làm giám mục chánh và phó địa phận Trung
Đàng Ngoài, đã rộng cửa đón vị linh mục linh hướng nổi tiếng, trao tu phục và
sau một năm tập như thường lệ, đã cho cha khấn trọn ngày 12.01.1854. Ba năm
sau, cha tiếp tục giấc mộng thời niên thiếu, nên qua trụ sở tỉnh dòng ở Manila để
tìm đường đến Việt Nam. Sáu tháng lênh đênh trên biển cả, chiếc tàu của cha
Valentinô gồm các thừa sai của ba dòng tu Đaminh, Phanxicô và Augustinô. Các
vị tổ chức đời sống như một tu viện. Qua thư, cha Valentinô thuật lại: các vị cùng
nhau dâng lễ, đọc kinh nguyện mỗi ngày. Dịp Tuần Thánh, các vị cũng tổ chức
nghi lễ rửa chân, suy niệm đàng Thánh Giá, bắn pháo bông mừng Phục sinh và
tổ chức việc suy niệm Đức Mẹ trong Tháng Hoa nữa. Ngày 17.06.1857, cha đến
Manila trong niềm vui của các anh em dòng tại đây. Anh em ra đón cha tại bến
tàu, rồi đưa về thánh đường hát kinh TE DEUM và tạ ơn Đức Mẹ trước bàn thờ
Mân Côi.
Biến u sầu thành khúc ca vui.
Ngày 30.03.1858, cùng với cha Rianã Hòa và cha Carreras Hiển, cha Berrio-
Ochoa đặt chân lên đất Việt Nam, đến trình diện cha Chính Nam và Đức cha
Xuyên tại Kiên Lao. Cơn bách hại đang ở cao điểm: Đức cha An mới bị tử đạo
được tám tháng, thủ cấp của Đức cha Xuyên được treo giá vàng, nên ngài thường
xuyên phải ẩn nấp.
Trong thư gửi về gia đình, cha Vinh đã ghi nhận: “
Cánh đồng truyền giáo này
không thấy lấy một ngày quang đãng, không ngày nào không phải cố gắng giữ nét vui
tươi. Không ngày nào không có đau thương để khóc, không có lo toan để tìm phương bổ
cứu, không có mặt kẻ theo dõi hay quan quân truy lùng
”.
Sườn núi Canvê trơn dốc của cha Vinh đã bắt đầu. Tại đây tất cả đều còn lạ
lẫm: Ngôn ngữ, tập quán, đường đi, con người và bao nhiêu thứ phải làm quen,
phải học. Thế mà chỉ mấy ngày sau khi chào vị chủ chăn địa phận, vì tình hình
an ninh, mỗi vị phải chia tay nhau ẩn náu mỗi người một phương. Tuy mới chân
ướt chân ráo đến vùng truyền giáo, cha Vinh phải vận dụng sự khôn ngoan và
sáng tạo để hoàn thành những công tác mục vụ, thăm viếng. Tất cả mọi việc đều
phải lén lút.
Hai tháng rưỡi trôi qua, tuy tiếng Việt nói chưa thông, nhưng tài năng và
nhân đức của vị linh mục trẻ tuổi này đã được khẳng định. Đức cha Sampedro
Xuyên, trước nguy cơ có thể bị bắt, đã chuẩn bị cho tương lai của địa phận, ngài
dùng quyền Tòa Thánh để chọn một giám mục phó có quyền kế vị. Ngài đã
chọn cha Berrio-Ochoa Vinh. Đây là tâm sự của vị được tiến chức: “Thưa Đức
cha, nếu được thì xin cất chén đó cho con... Con thấy lòng tràn ngập lo lắng, áy
náy khi nghĩ đến địa vị mà Đức cha muốn đặt con lên. Nhưng điều mà môi
miệng con nói thì con cũng xin nói cả tấm lòng, đó là xin vâng trọn ý Chúa, bây
giờ và đời đời chẳng cùng”.
Giám mục “gậy tre mũ giấy”.
Lễ tấn phong tân Giám mục Valetinô Vinh, quả thực có một không hai trong
lịch sử Giáo Hội. Đêm 13 rạng ngày 14.06.1858, Đức cha Xuyên xử hành lễ tấn
phong trong nhà ông Trùm Chi ở Ninh Cường. Lễ nghi được tiến hành âm thầm
giữa đêm thâu, không một tiếng hát, không một người tham dự. Hai cha Rianõ
Hòa và Carreras Hiển là phụ phong, bao tay, bít tất không có. Mũ ngọc của tân
Giám mục làm bằng bìa cứng cũng phủ giấy tráng kim. Gậy ngọc là một cây nứa,
đầu gậy cuốn bằng rơm cũng được bọc giấy tráng kim. Việc chuẩn bị cho ngày lễ,
chúng ta hãy nghe ngài thuật lại trong thư gửi cho cha Orge ở Manila.
“
Con thú thật rằng, con muốn thoát ra khỏi vòng ràng buộc này. Nhưng biết bao
lần Đức cha đã bảo con, nên theo lương tâm, buộc con phải vui nhận việc tuyển chọn...
Con không dám cưỡng ý Chúa đã rõ rệt. Sau ngày được tuyển chọn, con chỉ còn vừa đủ
thì giờ để cấm phòng. Con lắng nghe Ngài phán trong thinh lặng, không có một cuốn
sách nào giúp tĩnh tâm, mà có tìm cũng không ra... Không phải chỉ thiếu sách cấm
phòng, nhưng chiều áp lễ tấn phong, thấy rằng mới chỉ có độ một nửa khăn áo cần
dùng trong nghi lễ, Đức Giám mục đại diện Tông tòa và con phải vội vàng hai tay kim
chỉ đóng vai thợ may. Tạ ơn Chúa, tới đúng giờ đã định, chúng con cũng có ít khăn áo
xứng đáng...
” (Thư 79).
Nếu như thánh Phaolô xưa tự nhận mình là tông đồ sinh non, vị tân Giám
mục cũng tự nhận là Giám mục sinh non, sinh thiếu tháng. Chưa đầy ba tháng
trên đất Việt với số tuổi 31, thế mà giờ đây phải quan tâm săn sóc một địa phận
trên 150 ngàn giáo hữu giữa cơn cuồng phong bách hại ác liệt nhất. Lúc này đây,
ngoài Chúa ra, ai có thể cảm thông được nỗi ưu tư của ngài?
Sau ngày tấn phong, hai Đức cha và hai linh mục lên xứ Quần Cống. Được ít
hôm, quan Án sát Nam Định đến bao vây làng này, khiến mỗi vị phải đi một
ngã. Đức cha Vinh phải chạy sang Trà Lũ, Đức cha Xuyên qua làng Thôn Đông,
rồi đến Kiên Lao thì bị bắt ngày 08.07 và bị xử lăng trì ngày 28.07.1858. Từ nay,
Đức cha Vinh phải một mình lãnh trách nhiệm toàn địa phận Trung. Theo ý vị
tiền nhiệm, Đức cha bỏ địa phận trốn qua tỉnh Hải Dương, là nơi cuộc bách hại
còn lắng dịu. Sau bốn ngày vượt sông băng lạch, ngài đến Cao Xá, tỉnh Hưng
Yên, rồi tới nơi Đức cha Hermosilla Liêm và cha Almato Bình trú ẩn. Được ít lâu,
ngài đã tìm được nơi trú ẩn mới trong vườn nhà anh Thăng, làng Hương La, xứ
Tử Nê (Bắc Ninh). Gia chủ đã đào cho ngài một hầm trú ẩn khá an toàn. Chính
tại hầm này, vị “Giám Mục Hầm Trú” đã thành lập tòa Giám mục trong gần trọn
đời Giám mục của ngài.
Giám mục hầm trú.
Khi nghe Đức cha Xuyên tử đạo, dầu kiên nhẫn và bình tĩnh, Đức cha Vinh
đã phải phát biểu nửa đùa nửa thật rằng: “Đức Giám mục khả kính Sampedro
Xuyên để lại cho tôi một gánh quá nặng. Ngày nào tôi nhoai đến thiên cung, tôi
sẽ tố cáo ngài.”
Trong thư gửi cho linh mục bạn, ngài viết: “
Tôi còng lưng gánh một gánh mà
tôi sợ, rất sợ, sợ đổ vỡ dọc đường...
” Sau đó, Đức cha tìm mọi cách trở về với địa
phận, nhưng không thể được, vì cơn bách hại tại địa phận Trung quá khắc
nghiệt.
Theo cha M. Gispert, có một lần duy nhất trong đời Giám mục, Đức cha
Vinh về xứ Kẻ Mèn, thuộc địa phận Trung. Nơi đây cùng với cha Rianõ Hòa, hai
vị đã tuyên thệ xây cất một thánh đường dâng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm, và nhận
Người làm bổn mạng của địa phận, nếu Chúa ban Giáo Hội thoát khỏi cơn bách
hại và hưởng thái bình. Lời tuyên thệ này về sau khi cha Hòa làm Giám mục đã
thực hiện. Đó là thánh đường sau ba lần tái thiết, nay là thánh đường kiểu
Gothique nguy nga dâng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm tại Phú Nhai.
Trở lại vị Giám mục hầm trú tại Hương La. Sáu tháng đầu, ngài sống chung
với Đức cha Alcazar Hy, Đức cha phó địa phận Đông, cho đến khi vị này phải rời
xứ truyền giáo tạm lánh qua Macao. Chính tại hầm trú này, Đức cha điều hành
địa phận gần trọn ba năm. Nơi đây, ngài sống như một ẩn sĩ, nhưng vẫn là linh
hồn của địa phận Trung. Sinh hoạt của ngài là cầu nguyện, hy sinh, viết thư cho
các linh mục và các giáo xứ bên địa phận. Hỗ trợ Đức cha có bốn đại chủng sinh
và ông lang Thư, người Cao Xá, trong việc sao chép thư luân lưu, cũng như việc
liên lạc.
Thật đáng khâm phục, trong cảnh dầu sôi lửa bỏng như thế, Đức cha vẫn
hướng về ánh sáng cuối đường hầm, vẫn nhìn trời xanh qua kẽ lá, vẫn chuẩn bị
cho Giáo Hội tương lai trong hoàn cảnh tưởng như tuyệt vọng này. Trong hầm
trú, ngài vẫn tiếp tục hướng dẫn, dạy thần học cho một số chủng sinh, huấn
luyện các linh mục tương lai. Để ôn học thêm và để việc huấn luyện được đầy đủ,
giữa khung cảnh bão táp ấy, ngài viết thư cho cha quản lý ở Macao, xin gửi cho
cha bộ sách thần học, bộ Contra Gentiles của thánh Tôma và nhất là bộ Giáo
Luật.
Ba năm trải qua như thế. Tất cả ở dưới hầm trú, trừ đôi lần giữa đêm, ngài ra
khỏi đó để thăm và xưng tội với Đức cha Liêm, hoặc đi giúp các bệnh nhân,
nhưng không vượt qua khỏi ranh giới hai làng Đức Trai và Tử Nê. Một vài lần,
ngài phải cuốn gói chạy trốn qua một hầm khác để tiếp tục ẩn nấp. Thật tả sao
cho xiết nỗi cơ cực và nỗi khổ ngài chịu. Cơ cực vì hầm chật chội, ngột ngạt, ăn
uống thiếu thốn... Khổ tâm vì không thể về với địa phận mình, trong khi cơn
bách hại ngày càng gia tăng. Các hung tin được loan báo tới tấp: Một, hai... rồi 18
linh mục tử đạo, các thầy giảng và biết bao giáo hữu bị gục ngã vì đức tin chân
chính. Trong một thư gửi cho Thánh Bộ Truyền Giáo, cha viết: “
Rất có thể trong
ít tháng nữa, địa phận của tôi chẳng còn thừa sai, chẳng còn linh mục, không chủng
sinh, không thầy giảng và không biết còn nói thêm chăng, không còn bổn đạo.
” (Thư
93)
Vui tươi và hỷ xả.
Tuy sống gian khổ như thế, Đức cha Vinh đã không một lời rên rỉ, không
một tiếng than thở. Cái “chương trình” thánh thiện trong vui tươi và hỷ xả của
anh chủng sinh thợ mộc vừa học, vừa làm thời niên thiếu, giờ đây ngài vẫn trung
thành thực hiện. Ta có thể thấy điều đó trong một thư gửi cho thân mẫu vào
tháng 08.1860:
“Mẹ chí yêu của lòng con,
Mẹ hỏi con, ăn uống làm sao? Mẹ quí mến của con ơi! Con sống tươi lắm, con làm
Giám mục cơ mà! Còn thức ăn ngày nào cũng có. Đừng lo mẹ ạ, chúng con chẳng đói
đâu. Nhưng mẹ tưởng hễ cứ làm Giám mục là ngồi ngựa à? Không, chúng con tuột
giày ra giữa đêm hôm tăm tối, nhoài hết chỗ lội này đến quãng lội khác. Vậy mà cứ vui
thôi. Một hôm, con lội sáu dặm đường, trên mưa tuôn, dưới bùn trơn, con ngã xoành
xoạch không biết bao nhiêu lần. Tuy là Giám mục, con cũng ướt như chuột và lấm bùn
be bét. Nhưng giáo hữu ở đây tốt lắm, về tới nhà đã thấy họ đổ nước cho con tắm rửa
sạch sẽ để chuẩn bị dâng lễ...”
“Ồ có lẽ mẹ bảo: Vinh nhỏ của mẹ ơi, sống thế xìu lắm! Không, chả buồn, chả xìu
chút nào mẹ ạ. Ở đây người ta sống mạnh, sống tươi, nhanh nhẹn lắm. Chúa an ủi
chúng con trong lao nhọc. Con tuy là “trai già” mà nhảy qua vũng lội vẫn lẹ như sóc
ấy. Mẹ ạ, Vinh trước đã là đứa con nhảy nhót qua núi đồi thì nay bộ mặt đầy râu của
nó, cũng sẽ làm tên quỷ già nhất ở trong hỏa ngục phải run sợ...
” (thư 116)
Quả thực, phải có tâm hồn tươi trẻ và siêu nhiên mới có được thái độ và lời
lẽ như vậy, vừa dí dỏm vừa tươi vui pha chút đùa bỡn nữa. Những lá thư như thế
phản ánh được sự bỏ mình và nét tươi trẻ của vị Giám mục tử đạo 34 tuổi này.
Thực là cái vui của các vị thánh, của những tâm hồn đầy Chúa. Chẳng bao lâu
nữa, vẫn với niềm vui tươi và tính đơn sơ phó thác ấy, ngài giơ đầu đón nhát
gươm lý hình, và trên mặt đẫm máu đào của ngài, còn ánh lên nét tươi vui.
Tháng 08.1861, chiếu chỉ phân sáp của vua Tự Đức như một cơn hồng thủy
tràn lan mọi thị xã cũng như thôn quê. Làng Hương La cũng không yên ổn được
nữa. Đức cha Vinh liền xuống thuyền với linh mục Almato Bình, xuôi dòng
xuống Hải Dương. Tại đây, hai vị may mắn gặp Đức cha Liêm và thầy Khang
đang ở trên một thuyền khác trong bầu không khí thân mật và cảm động.
Nhưng sau đó, thuyền ngài lại phải tiếp tục cuộc hành trình. Các giáo hữu giới
thiệu hai vị trọ nhà một người ngoại giáo làm phó lý ở gần đó. Không ngờ cháu
ông này đi báo với quan, khiến hai vị bị bắt ngày 25.10.1861 và bị đóng cũi giải
về Hải Dương. Tại đây, hai vị gặp Đức cha Liêm trong một cũi khác, ngài đã bị
bắt trước đó năm ngày.
Ngày 01.11.1861, ba vị thừa sai cũng bị đem đi xử. Quân lính áp giải đông
như đi rước. Cũi Đức cha Vinh đi giữa hai vị kia. Ngài bình tĩnh ngồi cầu nguyện
như thói quen, nét mặt tươi tỉnh khiến mọi người phải ngạc nhiên. Tại pháp
trường Năm Mẫu, sau ít phút cầu nguyện, lý hình đã chém đầu các ngài theo
hiệu chiêng trống. Thi thể ba vị tử đạo được chôn tại đó, sau được cải về Thọ
Ninh, rồi Kẻ Mốt. Đến đời Đức cha Hiển, thi thể Đức cha Vinh được gửi về
Macao, và sau cùng được đem về quê hương của ngài.
Đức Thánh Cha Piô X đã suy tôn Giám mục Valentinô Berrio-Ochoa Vinh
lên bậc Chân Phước ngày 20.05.1906.