Chứng nhân đức tin
Thánh Jeronimô HERMOSILLA VỌNG (LIÊM)
Thánh Jeronimô HERMOSILLA VỌNG (LIÊM), Giám mục dòng Đaminh (1800 – 1861) Cột trụ Giáo Hội Việt Nam Thánh Hermosilla Liêm là một trong ba vị thừa sai lỗi lạc và can đảm nhất trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam, sánh...
Tiểu sử
Thánh Jeronimô HERMOSILLA VỌNG (LIÊM), Giám mục dòng Đaminh
(1800 – 1861)
Cột trụ Giáo Hội Việt Nam
Thánh Hermosilla Liêm là một trong ba vị thừa sai lỗi lạc và can đảm nhất
trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam, sánh bước với Đức cha Cuénot Thể (1835-
1861, địa phận Đàng Trong) và Đức cha Retord Liêu (1840-1858, địa phận Đàng
Ngoài). Ba trụ cột chống đỡ Giáo Hội Việt Nam trong những giai đoạn khó khăn
thời bách hại. Riêng thánh Giám mục Liêm luôn luôn đứng đầu sổ truy nã của ba
triều vua và các Tổng đốc Nam Định, đã khéo léo khi ẩn khi hiện, hoàn thánh
trách nhiệm một cách tuyệt vời.
33 năm thừa sai không một ngày yên ổn. 20 năm Giám mục chứng kiến bao
cảnh tang thương, nhưng chính ngài đã chủ phong cho bốn Giám mục (Đức cha
Jimenô Lâm, Marti Gia, Alcazar Hy và Sajurjo An), và truyền chức cho nhiều
linh mục bản xứ, đã điều khiển địa phận Đông Đàng Ngoài phát triển vững chắc,
đủ khả năng tách làm hai. Và khi ngã gục dưới lưỡi gươm của lý hình thì theo sử
gia Rodriguez: Ngón tay phải của ngài vẫn chỉ lối cho nhân loại hướng đến một
vì sao.
Thỏa niềm ước mong.
Thánh Jeronimô Hermosilla sinh ngày 30.09.1800 tại Santo Domingo de la
Calzada, Tây Ban Nha, trong một gia đình tuy nghèo nhưng đạo đức. Từ nhỏ,
cậu được theo học với các cha dòng Biển Đức và có ý định xin vào dòng này năm
15 tuổi. Thời đó, nước Tây Ban Nha chịu sự thống trị của Napoléon I, các dòng
tu không được nhận người. Hersomilla được giới thiệu qua học tại chủng viện
địa phận Valencia do các cha dòng Đaminh điều hành. Duyên kỳ ngộ này đã đưa
cậu đến dòng Thuyết giáo và lãnh tu phục năm 19 tuổi.
Năm sau (1820), nước Tây Ban Nha có loạn, một số tu viện phải giải tán, tài
sản Giáo Hội bị sung công. Các giáo sĩ không tuyên thệ trung thành với hiến
pháp mới đều bị bắt giam, bị lưu đày hoặc bị giết. Hermosilla đành phải rời nhà
dòng, đăng ký vào quân đội cho đến năm 1823. Khi vua Fernando khôi phục lại
quyền bính, cậu xin vào nhà tập và khấn dòng ngày 20.10.1823. Ba năm quân
ngũ đã mãi mãi lưu lại nơi vị tu sĩ này tính xông pha, lòng gan dạ và đức kiên
nhẫn.
Năm 1824, khi đọc thư kêu mời của tỉnh dòng Rất Thánh Mân Côi Manila,
thầy Hermosilla và 11 người khác liền tình nguyện đi truyền giáo ở Viễn Đông.
Sau sáu tháng lênh đênh trên biển, ngày 02.03 năm sau, 12 tu sĩ này đã đến
Manila quỳ phục dưới chân cha giám tỉnh và thưa: “Này con đây, xin hãy sai
con.” Quả là niềm vui lớn lao của tỉnh dòng, vì 20 năm qua, tỉnh dòng chỉ đón
nhận được 27 người, bên cạnh con số 86 vị đã qua đời vì tuổi già. Năm 1826,
thầy Hermosilla lãnh chức linh mục và làm giám đốc Hội Mân Côi.
Năm 1828, cha tình nguyện đến Việt Nam cùng với ba thừa sai Pháp, khởi
hành từ Macao đến Bắc Việt ngày 05.02.1829. 9 giờ tối, cha tới trụ sở cha Chính
Amandi Chiêu, và sáng hôm sau tới trình diện Đức cha Degado Y.
Tả sao cho xiết niềm vui của vị Giám mục. Cả địa phận Đông Đàng Ngoài
chỉ có ba vị thừa sai, gồm hai Đức cha Y và Henares Minh, cha Chính Hiền,
nhưng cả ba vị đều già và bệnh tật. Vừa thấy vị thừa sai mới, Đức cha đã chạy ra
và vui sướng: “Vọng! Vọng! Ước Vọng!” Và từ đó, Vọng trở thành tên gọi chính
thức của cha Hermosilla.
Sau vài tháng miệt mài học tiếng Việt, cha Vọng đã không phụ lòng mong
đợi của các bậc đàn anh. Cha hòa mình rất nhanh với các tín hữu cũng như
người ngoại giáo, tất cả là hy sinh và yêu thương. Không hề mệt mỏi, vị thừa sai
30 tuổi không ngừng di chuyển thăm viếng các họ đạo, giảng dạy, rửa tội và giải
tội. Nỗi buồn duy nhất của cha là việc nhiều quá mà làm không xuể. Cha liền
viết thư xin bề trên gửi thêm những tu sĩ trẻ, khỏe mạnh và hăng hái khác.
Danh “trùm Vọng” thời vua Minh Mạng.
11 năm thừa sai đầu tiên, cha Vọng là linh hồn các hoạt động truyền giáo của
dòng Đaminh trong địa phận: Bốn năm phụ tá cha Chính Amandi Chiêu, ba năm
bề trên dòng, một năm phụ tá cha Chính Hiền, rồi thay thế ngài từ năm 1838.
Nhưng thực tế những năm làm phụ tá, vì cha Chính già yếu, mọi công việc đều
do cha Vọng điều hành. Cha đã nâng số linh mục bản xứ lên đến 40, đủ sức
đương đầu với cơn bách hại sắp tới.
Bão tố đã thực sự bừng lên trên địa phận Đông Đàng Ngoài từ năm 1838,
khởi từ sau lá thư gửi cho bốn thừa sai và hai linh mục Việt Nam của cha Viên bị
phát hiện. Hai Giám mục và cha Chính bị tử đạo, nhiều linh mục tu sĩ giáo dân
đã đổ máu vì đức tin. Cũng vì một trong sáu lá thư gửi cho cha Vọng, nên danh
“trùm Vọng” được ghi vào đầu sổ bộ truy lùng của vua Minh Mạng và quan
Tổng đốc Trịnh Quang Khanh. Chiếu chỉ 18.01.1839 dành một đoạn nói về cha:
“Hãy còn danh Trùm Vọng chưa bắt được. Dù quan quyền, dù thứ dân, chẳng kỳ
ai, hễ bắt được sẽ lãnh thưởng mười ngàn quan tiền...”
Để giúp dân dễ nhận diện, vô tình vua Minh Mạng cho chúng ta biết đôi nét
về chân dung của vị thừa sai này: “Người cao lớn, mũi dài, râu rậm, cặp mắt tinh
anh và hơi xám. Nước da trắng trẻo, khuôn mặt phương phi...” Đúng là chân
dung của một con người nghị lực không bao giờ chịu lùi bước. Quả thật, trong
giai đoạn này tuy rất thận trọng, cha Vọng vẫn đi khắp nơi an ủi người này,
khích lệ kẻ kia, và trao ban các bí tích như coi thường cơn giận dữ của “hỏa
ngục”. Dĩ nhiên không phải là không có những giây phút hồi hộp. Khi thì suýt bị
bắt với Đức cha Y, khi thì bị cắm đầu cắm cổ vượt vòng vây chạy trốn. Có những
lần một mình đi giữa đêm tối trên những đoạn đường quanh co xa lạ.
Thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.
Chúa gìn giữ cha Vọng trong nhiều trường hợp kỳ lạ. Lần kia, tại xứ Liễu
Dinh, một người lính đã thấy cha trong phòng, liền gọi đồng đội ra tiếp sức. Đến
khi họ vào, cha ngồi sau màn cầu nguyện: “Xin cho ý Chúa được thể hiện...” Thế
mà lính không thấy gì cả, cho đến khi họ nhìn thấy một cụ già có râu ngoài sân,
liền nhào ra bắt nhầm. Và cha có thời giờ chạy trốn thoát.
Lần khác, quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh dẫn 800 lính với hàng chục
chiếc thuyền bao vây làng cha đang ẩn trốn, bỗng trời nổi giông bão. Thế là
quan quân hoàn toàn thất bại: hai thuyền bị đắm và nhiều chiếc bị trôi dạt kéo
theo ba sĩ quan và các lính thủy.
Vào cuối thời vua Minh Mạng, địa phận chịu thiệt hại đáng kể. Trên 1.000
nhà thờ bị dỡ xuống, có nơi phải nộp gỗ ván cho quan tỉnh. Các chủng viện, 40
nhà chung, 60 họ đạo, 22 nhà phước Đaminh, 3 nhà phước Mến Thánh Giá, đều
bị triệt hạ và giải tán mỗi người mỗi nơi. Giáo dân thì bơ vơ, hai vị Giám mục và
cha Chính chịu tử đạo, mọi gánh nặng đổ trên vai cha Vọng. Tuy nhiên với sự
cộng tác của hai thừa sai, 37 cha dòng Việt và một số linh mục triều, năm 1840,
địa phận đã rửa tội thêm 143 người lớn, hơn 1.000 trẻ em, giải tội 118.000 người
và chứng hôn 1.630 đôi. Thời gian này có hai mẩu chuyện về cha Vọng.
Thứ nhất về lá thư cha báo cáo về tình hình Bắc Việt cho Bề trên tỉnh về sự
kiên cường của các vị tử đạo và “sức sống ngầm” của Giáo Hội Việt Nam trong
những năm giông tố. Lá thư đã làm cho cả tỉnh dòng vui mừng. Tại nhà thờ
thánh Đaminh ở Manila, cộng đoàn tu sĩ đã sốt sắng hát kinh “Te Deum” và cử
hành một thánh lễ tạ ơn. Lá thư này được phổ biến khắp nơi, làm cả thế giới
ngạc nhiên và khâm phục. Đức Grêgoriô XIV viết cho Giáo Hội Việt Nam một
lá thư mục vụ khích lệ. Ngài họp hội đồng cơ mật trù liệu việc phong thánh cho
các vị tử đạo Việt Nam.
Chuyện thứ hai là chuyện thừa sai Marti Gia đã đến Yên Trì được gần một
năm mà không có cách nào trình diện để tuyên thệ theo luật bấy giờ (sắc EX
QUO). Lúc ấy, cha Vọng đang làm Bề trên phải bỏ chỗ ẩn an toàn để đến gặp
người dưới tiến hành việc tuyên thệ này, cũng như đưa ra những lời khuyên thực
tiễn.
Dưới thời vua Thiệu Trị, cuôc bách hại tuy lắng dịu, nhưng vẫn còn xảy ra ở
một vài nơi. Tòa Thánh đặt cha Vọng làm đại diện Tông Tòa thay thế Đức cha Y
và Minh đã tử đạo. Theo dự định, lễ tấn phong sẽ cử hành vào ngày 14.04.1841
tại Vĩnh Trị, Phúc Nhạc, nơi Đức cha Retord Liêu ẩn trú. Tổng đốc Trịnh Quang
Khanh được mật báo đem quân bao vây bắt lầm được hai thừa sai Pháp là
Berneux Nhân và Galy Lý. Trên đường áp giải về dinh, dân chúng kháo với
nhau: “Kìa! đó là danh trùm Vọng!” Tổng đốc Trịnh Quang Khanh cũng không
giấu được vui mừng cho đến khi biết mình đã lầm, liền tức giận, cho đóng cũi,
tra tấn dã man và lột trần cả hai vị, trói ngoài công đường cho mọi người sỉ nhục.
Về sau nhờ áp lực của quân Pháp, nhà vua cho lệnh tha hai vị về (1843) (Xem
thêm hạnh thánh Anê Đê).
Hai ngày sau, cha Vọng mới khởi hành từ Hải Dương đến Vĩnh Trị. Vì đã
biết vụ hai vị thừa sai bị bắt, cha nhờ giáo hữu dẫn đi đường khác. Tất cả chỉ có
thể đi vào ban đêm, bang rừng lội suối, có khi đi thuyền nhưng thường là đi bộ,
còn ban ngày thì ẩn nấp trong bụi cây, ngoài đồng lúa hay bụi tre. Tổng đốc
Trịnh Quang Khanh đã cho đặt các trạm canh khắp nơi. Đặc biệt có một trạm
canh rất cẩn mật, cha phải hối lộ cho viên phó Tổng, và theo kế hoạch của ông ta
để lọt được qua trạm. Đêm ấy, theo lời chỉ dẫn, cha mặc áo cộc, quần nâu xắn lên
tới đầu gối, lấy bùn xoa đen hết mặt mũi tay chân, buộc túm râu tóc lại, đầu đội
nón lá... rồi nắm đuôi ngựa của viên phó Tổng đang cưỡi, chạy lăng xăng theo
sau, như tên đầy tớ để qua trạm.
Vị Giám mục khôn ngoan.
Đến Vĩnh Trị, cha Vọng tìm đến tòa Giám mục của Đức cha Liêu. Đó là một
cái chòi có lối chạy xuống hầm để đề phòng mỗi khi quan quân bất ưng đến
thăm. Tại đây, ngày 25.04, cha được tấn phong. Đức tân Giám mục tìm đường
trở về địa phận và đổi tên là Liêm, thay cho danh trùm Vọng vẫn được treo giá
cả vạn quan. Ít lâu sau, Tổng đốc cũng ngã bệnh và qua đời.
Lợi dụng tình hình lắng dịu, Đức cha Liêm hoạt động không ngừng. Ngày
26.06, ngài tấn phong Giám mục cho cha Jimenô Lâm làm phụ tá. Sau lễ, ngài
tập họp các linh mục để lập chương trình truyền giáo trong hoàn cảnh mới. Từ
đó, cả địa phận bừng lên sức sống mới. Các nhà thờ, nhà xứ được tái thiết, các nữ
tu viện, nhà Đức Chúa Trời được tu sửa. Giáo hữu góp tiền chuộc các anh em
khác còn bị giam giữ. Trường Latinh được xây lại tại Nam Am (Hải Dương), sau
dời về Lục Thủy. Trường Thần học được thiết lập ở Mỹ Động, Hải Dương.
Đức cha khuyên giáo dân đặc biệt tin tưởng, cậy trông vào Đức Mẹ, siêng
năng đọc kinh Mân Côi và kêu cầu nữ thánh Philomêna tử đạo. Sau này, ngài
chọn thánh nữ làm Bổn Mạng địa phận và xin phép Tòa Thánh mừng lễ hàng
năm.
Nhờ sự cộng tác của nhiều tân linh mục trong địa phận và nhiều thừa sai
mới được gửi tới, tình hình địa phận Đông phục hồi rất nhanh. Việc trao ban bí
tích được gia tăng thêm mỗi năm. Chỉ cần cẩn thận đôi chút, các Giám mục có
thể đi ban Bí tích Thêm sức nhiều nơi.
Năm 1844, ngài mở lễ kính thánh Tổ phụ Đaminh rất trọng thể. Các linh
mục, tu sĩ, giáo dân thay nhau về thánh đường Nam Am suốt 8 ngày liền. Họ gặp
nhau chia sẻ tin tức, kinh nghiệm sống đạo của mình. Thánh lễ đại trào duy nhất
của Đức cha Liêm, sau này sẽ trở thành tập tục “Lễ đầu Dòng” trong địa phận. Số
tân tòng ngày càng gia tăng. Ngày 22.08.1844 tại Đông Xuyên, Đức cha rửa tội
cho 44 người lớn, trong đó có một Chánh tổng, một phó Tổng, tám Lý trưởng,
một thầy cúng.
Sự phát triển ấy ngày càng phấn khởi hơn. Năm 1848, khi số tín hữu lên tới
184.000, Đức cha xin Tòa Thánh chấp thuận chia địa phận thành hai: địa phận
Trung (nay là Bùi Chu, Thái Bình) được trao cho Đức cha Marti Gia, còn Đức
cha Liêm giữ lại phần đất đông dân cư (trên mười triệu), mà ít tín hữu (chỉ 0,4
phần trăm). Từ đó, hai địa phận ngày càng phát triển vững mạnh hơn, mặc dù
vua Tự Đức bắt đầu bách hại đạo. Năm 1852, địa phận của Đức cha Liêm rửa tội
được 388 người lớn, 2.824 trẻ em, trong đó đa số là trẻ em ngoại.
Mười năm cuối đời của Đức cha Liêm là những năm đầy vất vả và gian lao.
Vua Tự Đức ra thêm chiếu chỉ cấm đạo. Năm 1855, khi qua địa phận Trung, hai
thầy giảng tháp tùng Đức cha Liêm bị cướp bắt, Đức cha phải năn nỉ cả ngày họ
mới chịu tha. Năm sau, chính Đức cha bị bắt, khi ngài đi kinh lý xứ Hữu Bàng,
phải chuộc mất 300 quan. Năm 1858, trước tình hình bách hại gay gắt, sẽ không
còn ai sống sót, Đức cha họp và quyết định chia một nửa số thừa sai về Macao,
chờ ngày thuận tiện sẽ trở lại địa phận hoạt động. Ngài chỉ giữ lại năm thừa sai
Đaminh cho cả hai địa phận. Năm 1859, một lần nữa, Đức cha phải đổi tên là
Tuấn, để khỏi bị lộ cho tới ngày chiếu chỉ phân sáp ra đời.
Nỗi đau của vị chủ chăn.
Tả sao cho hết nỗi đau của vị chủ chăn dòng Thuyết giáo. Hai cuộc tử đạo
của hai Đức cha An và Xuyên, biết bao hung tin mỗi ngày: các thánh đường bị
phá hủy, nhiều linh mục và thầy giảng bị ngã gục. Giờ đây chiếu chỉ phân sáp lại
nhắm đến giáo dân. Ý thức bổn phận chủ chăn, ngài liền viết một thư luân lưu
cho khắp địa phận, kêu gọi mọi người thống hối, để Chúa mở tay ban phát mọi
sự lành, kêu gọi tín hữu tin vào Chúa quan phòng, vì “lá cây nhỏ mọn mặc lòng,
nếu Chúa chẳng cho động, nó chẳng động được đâu”, khích lệ mọi người can
đảm xưng đạo cho vững vàng, năng suy niệm cuộc thương khó mà Chúa đã chịu
vì nhân loại hầu được thêm can đảm.
Đêm thu 14.08 năm Tân Dậu (18.09.1861), trong khung cảnh tịch mịch của
đêm trăng rực sáng, Đức cha Liêm ngước mắt nhìn cảnh vật mà lòng xúc động
trào dâng. Ngài nghĩ đến số phận đoàn chiên đang bơ vơ thiếu chủ chăn, những
gia đình tín hữu bị phân tán, vợ một nơi chồng một nẻo, con cái phải xa cha mẹ...
Nhưng nỗi khổ tâm lớn nhất của ngài là cũng đêm đó, chủng viện Kẻ Mốt phải
giải tán, những mầm non của Giáo Hội thiếu điều kiện phát triển. Cha Khoa
thay mặt ngài, giờ đây đang nói với chủng sinh những lời cuối cùng xiết bao xúc
động: “Từ trước tới nay Đức cha cố giữ anh em ở đây, và lo liệu cho anh em thực
hành... Bây giờ, Đức cha buộc lòng phải giải tán nhà trường. Nếu Chúa để chúng
ta còn sống thì rồi đây có ngày Đức cha sẽ gọi anh em trở lại. Đức cha nhắn lời
chúc lành và dặn dò anh em sống sao cho tốt, trông cậy vào Chúa là Cha nhân
lành và đừng quên cầu nguyện cho ngài, cho địa phận và cho cả Giáo Hội Việt
Nam. Anh em hãy thu xếp đi ngay trong đêm nay, khỏi cần bái chào Đức cha,
kẻo ngài không cầm được nước mắt...”
Cũng đêm đó, Đức cha Liêm phải rời làng Kẻ Mốt đến trú ẩn ở Thọ Đức. 33
năm hoạt động trên quê hương Việt Nam đã chất chứa những gánh quá nặng
trên vai ngài. Giờ đây sức khỏe ngài đã giảm sút, râu tóc đã bạc phơ chỉ duy đôi
mắt vẫn giữ được vẻ tinh anh. Cảm thương thay vị cha già bước từng bước mệt
nhọc trên quãng đường trơn trượt trèo lên đỉnh núi Sọ. Ngày mai sẽ ra sao?
Không địa sở, không nơi ẩn náu, chỉ còn chờ cái ngày cũng chẳng xa, rơi vào tay
những kẻ đang truy nã.
Cùng đi với Đức cha có thầy giảng Giuse Khang. Hai cha con trọ ở Thọ Đức
được ba tuần thì bị lộ. Lại phải xuống thuyền qua thị xã Hải Dương và tá túc trên
thuyền của một giáo hữu, gia đình ông Trương Bính. Được vài ngày, hai vị tình
cờ gặp Đức cha Valetino Vinh và cha Almato Bình dọc theo đường thủy từ Kẻ Nê
xuống. Thật là cuộc hội ngộ đặc biệt, các vị khích lệ, trao đổi nhau thêm can đảm
và tạ ơn Chúa vì dịp may hiếm có này. Sau đó, các vị chia tay nhau mỗi người
một nẻo.
Dưới sự tận tình che giấu của ông Trương, Đức cha và thầy giảng Khang
được ít ngày bình yên cho đến hôm xảy ra cuộc cãi vã giữa cha con ông Trương
Bính. Người con trai vì tức giận cha mẹ, đã đi tố cáo ông bà về tội chứa chấp Tây
dương đạo trưởng. Đội Bằng lúc đó làm Chánh tổng liền đem gia nhân đến bắt
Đức cha vào ngày 20.10.1961. Khi bắt, Đức cha đưa cho đội Bằng một số tiền và
nói:
- Xin bắt và giam giữ một mình tôi thôi. Hãy để những người đánh cá nghèo
này đi.
Khi thầy Khang nhổ cây sào thuyền định chống cự thì Đức cha cản lại rằng:
- Đừng chống trả làm gì, hãy phó mặc cho Thánh ý Chúa.
Thế là cả hai bị bắt trói và đưa về Hải Dương.
Đồng hành về Trời.
Sau khi lấy khẩu cung, Đức cha bị giam trong chiếc cũi chật hẹp, nằm không
nổi, đứng cũng chẳng được, cứ phải khom lưng suốt ngày, chân tay rã rời. Dầu
vậy, ngài vẫn tìm cách giảng đạo cho các bạn tù, và rửa tội cho con trai viên đội
Bái, cậu cũng bị xử tử với Đức cha.
Chiều ngày 26.10, sau khi bắt được Đức cha Vinh và cha Bình, quân lính hò
reo ầm ĩ, Đức cha Liêm đang thiếp ngủ bừng tỉnh dậy. Ba chiến sĩ đức tin trong
ba chiếc cũi ngậm ngùi nhìn nhau, nhưng lòng đầy hân hoan, vì thấy được đoàn
tụ bên nhau trong những ngày cuối cùng. Ngày xử được ấn định là ngày
01.11.1861. Ba chiếc cũi được khiêng đi sau đội quân 500 người. Đức cha Liêm
trong cũi cuối cùng, trang nghiêm như ngày đại lễ, thỉnh thoảng ngài giơ tay ban
phép lành cho các giáo hữu đứng hai bên đường.
Tại pháp trường Năm Mẫu, ba vị được đưa ra khỏi cũi, cùng cầu nguyện ít
phút, rồi đưa tay cho lý hình trói vào ba cọc. Bản án được đọc lên. Ba hồi chiêng
trống, ba lưỡi gươm vung lên một lúc, chém rơi đầu ba vị anh hùng. Khi các quan
ra về, dân chúng dù lương hay giáo, tranh nhau thấm máu tử đạo. Ba thi hài được
bọc trong ba chiếc khăn và chôn tại chỗ. Thủ cấp các ngài được treo ở bến đò
Hàn ba ngày. Nhưng sau đó giáo dân đánh tráo bỏ vào đó ba củ chuối rồi đưa về
Yên Dật, và sau lại đưa về an táng tại Thọ Ninh một thời gian. Cuối cùng, di về
đền Các Thánh Tử Đạo Hải Dương.
Đức Thánh Cha Piô X suy tôn Đức cha Jeronimô Hermosilla Liêm lên bậc
Chân Phước ngày 20.05.1906. Đức cha đã nằm xuống, nhưng chân lý ngài đã
truyền giảng, phong thái và nhiệt tâm của ngài vẫn sống mãi trong các tín hữu và
hàng giáo sĩ của địa phận. Tất cả sẽ nắm tay nhau theo dấu chân vị cha chung để
tiếp tục làm chứng cho đức tin.