Chứng nhân đức tin
Thánh Gioan Théophane VÉNARD VEN
Thánh Gioan Théophane VÉNARD VEN, Linh mục Thừa Sai Paris (1829 – 1861) Nụ cười bất tận. Tạp chí “Những Người Ra đi” số dành riêng cho Hội Thừa Sai Paris đã phác họa chân dung vị Thánh Tử Đạo trẻ trung,...
Tiểu sử
Thánh Gioan Théophane VÉNARD VEN, Linh mục Thừa Sai Paris (1829
– 1861)
Nụ cười bất tận.
Tạp chí “Những Người Ra đi”
số dành riêng cho Hội Thừa Sai Paris đã phác
họa chân dung vị Thánh Tử Đạo trẻ trung, linh mục Théophane Vénard Ven
như sau:
“Phải nói rằng khi anh chào đời, một đóa hồng nở trên môi, một cánh chim
cất tiếng líu lo bên tai. Bởi vì khi anh diễn tả ý mình, lời anh tràn ngập những
hình ảnh dễ thương dịu dàng, duyên dáng. Những mối tình thân từ thuở thơ ấu,
cũng như sau này, anh vẫn duy trì bền vững ngày càng đậm đà, ngọt ngào và
thánh thiện.”
“Đời anh là một bài ca trong lúc vui, lúc buồn. Từ những biến cố thời học
sinh cho đến lòng sốt sắng khi gia nhập hàng tư tế. Anh hát lên khi rời đất Pháp,
anh hát lên khi thấy đất Việt Nam...”
“Trong những lá thư dài và thường xuyên, anh kể lại cho gia đình từng chi
tiết anh gặp trong đời. Đối với anh, đời tông đồ sao mà thoải mái, vui tươi, dễ
yêu đến thế! Anh thi vị hóa tất cả: Với anh, việc cực nhọc thành nhẹ nhàng, gánh
nặng nên nhẹ nhõm, bệnh tật không làm anh nản chí, anh coi như cơ hội thưởng
nếm những giây phút nghỉ ngơi, các cuộc hành trình qua đồng lầy, núi cao hay
trên đựờng sỏi đá, anh diễn tả dưới mầu sắc tươi mát như những buổi đi dạo mùa
xuân. Anh quả là cây huệ có sức mạnh của cây sồi.”
“Chúng ta chỉ có thể đoán ra những cực hình anh chịu, vì anh mô tả chúng
đằng sau những cánh hoa kỳ diệu, mà anh không ngừng gieo trồng, tung vãi mọi
nơi cho đến khi nhắm mắt lìa đời. Những đóa hoa đó nở rộ trong công việc của
anh, nở trong những cực hình, nở trong cũi gỗ, nở trên những dụng cụ tra tấn và
nở ngay trên mảnh đất thấm máu đào của anh. Quan tòa cũng trở thành bạn
hữu, lý hình cũng phải tỏ lòng ngưỡng mộ. Đối với anh, nhát gươm chém đầu
định mệnh chỉ là “ngắt nhẹ cánh hoa tuyển lựa để trang hoàng bàn thờ ...”
Tìm viên ngọc Viễn Đông.
Gioan Théophane Vénard sinh ngày 21.11.1829 tai Saint Loup sur Thouet,
thuộc thị trấn Deux Sèvres, nước Pháp. Thân phụ là ông Gioan Vénard, thân
mẫu là bà Marie Gueret. Vénard ảnh hưởng rất nhiều nơi thân phụ. Chính ông
dạy dỗ và gợi lên trong cậu ước nguyện làm linh mục. Cũng chính ông gửi gắm
cậu cho cha xứ để học tiếng Latinh. Năm 14 tuổi, thân mẫu cậu qua đời, chị
Mélanie trở thành người bảo mẫu hiền dịu, đã cùng với thân phụ săn sóc, khích
lệ cậu vượt qua mọi khó khăn thời chủng viện và thư từ thường xuyên với linh
mục Vénard trên bước đường truyền giáo sau này.
Mãn khóa triết học tại Mont Morillon, thầy Vénard được chuyển qua giáo
phận Poitiers tiếp tục khóa thần học (1848). Qua các thư từ gửi cho thân phụ, ta
biết thầy Vénard tại Poitiers đã thao thức nhiều về việc truyền giáo. Do đó, ngay
sau khi lãnh chức phó tế, thầy xin gia nhập Hội Thừa Sai địa phận. Năm 1852,
thầy được đức Cha Pio phong chức linh mục. Vị tân linh mục nôn nao chờ ngày
được phái đến Việt Nam.
Ngày 23.09.1852, cha xuống tàu ở cảng Anvers để thế chân một thừa sai mới
bị trục xuất khỏi Việt Nam. Sau bốn tháng rưỡi bập bềnh trên biển cả, cha
Vénard tới Singapore. Nơi đây cha gặp bốn chủng sinh Việt Nam với những xúc
động sâu xa, vì cha coi họ là anh em của những vị tử đạo. Sau đó cha được đưa
đến Hồng Kông chờ cơ hội. Ở đây, cha nỗ lực học thêm tiếng Hán. Trong một lá
thư viết từ Paris, cha Darran nói với cha Vénard rằng: “Thưa cha, viên ngọc quý
Việt Nam được trao cho cha rồi đó”. (02-1854).
Ngày 13.07.1854 cha cập bến cửa Cấm, và được tiếp đón cách long trọng tại
tòa giám mục Vĩnh Trị, trụ sở Đức cha Retord Liêu đang phụ trách địa phận Tây
Đàng Ngoài. Sau vài tháng học tiếng, cha tháp tùng Đức cha đi kinh lý các nơi và
dạy học ở chủng viện. Đầu tháng 3-1857, viên tri huyện Vĩnh Trị là bạn thân
Đức cha Retord, trước khi đem quân đến vây bắt, ông đã báo tin cho biết, nhờ đó
Đức cha, cha Vénard Ven và cha Charbonnier chạy thoát (cha Lê Bảo Tịnh ra
trình diện). Từ đây, bắt đầu những ngày lưu lạc của cha Ven, nay đây mai đó
không lúc nào yên ổn.
Tù tội vì yêu thương.
Ngày 30.11.1860, nhân lúc cha đang ở Kẻ Bèo, viên cai đội đem năm sáu
chiếc thuyền chở khoảng 20 người đến vây bắt cha. Cha liền trốn giữa vách đôi
của căn nhà. Cai đội thét lớn tiếng:
- Tây dương đạo trưởng đâu? Ra đây ngay!
Thầy giảng Phêrô Khang tìm cách nói tránh đi:
- Ở đây chỉ có tôi thôi. Ông cai thương, tôi được nhờ, ông cai bắt, tôi đành
chịu.
Vì đã được mật báo, viên cai đội cho lệnh trói thầy, rồi đi thẳng tới vách nhà
vị thừa sai đang ẩn và đập thật mạnh bật tung miếng ván che ra, bắt cha Ven
nhốt vào cũi giải về Thăng Long (Hà Nội). Trong những ngày chờ đợi, một viên
phó Tổng trấn đối xử với cha cách lịch sự. Ông cho đóng một chiếc cũi rộng hơn
một chút và trói cha bằng một sợi xích nhẹ nhất. Thỉng thoảng còn mời cha lên
phủ ăn cơm như người tự do. Nhưng thời gian đó kéo dài không được bao lâu.
Trong lá thư gởi cho gia đình, qua chị Mélanie, cha kể: “Em đã đến Kẻ Chợ
(tên cũ của Hà Nội). Cả nhà thử tưởng tượng coi: Ngồi bó gối trong cũi gỗ, tám
người lính khiêng hai bên, đám đông dân chúng ồn ào bu lại nhìn xem. Em nghe
họ nói: “Chàng Âu châu này dễ thương quá. Anh ta thản nhiên và vui tươi như đi
dự lễ tiệc, chẳng tỏ vẻ gì là sợ hãi cả”. Em cầu nguyện với Nữ Vương các Thánh
Tử Đạo, xin Đức Mẹ thương phù trợ cho người tôi tớ nhỏ bé của Mẹ. Mới đầu
quan tòa cho em uống một chén trà. Em vẫn bị ngồi cũi nhưng uống cách hồn
nhiên. Rồi quan tra hỏi như thường lệ:
- Anh đến An Nam để làm gì?
- Tôi đến đây chỉ để chỉ giảng đạo thật.
- Anh bao nhiêu tuổi rồi?
- Thưa, ba mươi mốt.
Viên quan tỏ vẻ thương cảm thốt lên:
- Hắn còn trẻ quá!
Rồi ông hỏi:
- Ai sai anh đến đây?
Em đã đáp:
- Không phải vua quan đất Pháp gởi tôi đi. Tôi muốn đi rao giảng đạo lành
cho mọi người, và các Bề Trên trong đạo gởi tôi đến Việt Nam.
Khi viên quan muốn gán cho cha tội xâm lược của Pháp, cha khẳng khái trả
lời:
- Không bao giờ chúng tôi ủng hộ quân viễn chinh đâu. Nếu không tin, xin
cứ để tôi đến gặp họ, tôi sẽ khiển trách việc họ đến gây chiến. Nếu tôi thất bại,
xin tình nguyện về đây nộp mạng.
- Hãy đạp lên Thánh Giá, anh sẽ thoát chết.
- Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo Thập Giá, sao tôi làm như thế được?
Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quá quý, đến độ tôi phải mua nó bằng cái giá
bội giáo.
Ngày 03.01.1861, cha viết thư cho đức Cha Theurel: “
Gươm đã kề sát bên cổ
mà con chẳng rùng mình chút nào. Thiên Chúa nhân lành đã hỗ trợ sự yếu đuối của
con, nên con thấy vui mừng. Thỉnh thoảng con lại cất cao tiếng hát trong cung điệu
này:
Lạy Mẹ dấu yêu
Xin thương đặt con Trong Quê đời đời
Bên thánh nhan Người.
Lạy Mẹ Vô Nhiễm! Khi đầu con rơi xuống dưới lưỡi gươm của lý hình, xin nhận
lấy tôi tớ nhỏ bé như trái nho chín được hái, như bông hồng nở rộ được ngắt về dâng
kính Mẹ. AVE MARIA
”.
Nhờ một giáo hữu tên Hương dẫn lối, linh mục Thịnh đã đến bên cũi của vị
thừa sai giải tội cho cha. Sau lại nhờ một bà đạo đức chuyển cho cha một hộp
nhỏ đựng Mình Thánh Chúa. Cha Ven cung kính chầu Thánh Thể cho đến nửa
đêm, rồi mới chịu lễ. Một lần khi trao Mình Thánh bị phát hiện, bà này đã
nhanh miệng giải thích là thuốc bổ để trị bệnh.
Ngàn thu vinh phúc.
Ngày 02.02.1861, nghe quan tuyên đọc bản án trảm quyết, cha Ven liền mặc
áo lông cừu trắng toát mà cha may riêng để mặc ngày tử đạo. Cha muốn mặc
trang phục đại lễ. Một toán lính độ 200 người và hai sĩ quan cỡi voi áp giải vị
anh hùng đức tin ra pháp trường. Suốt nửa giờ hành trình, cha không ngừng hát
thánh ca, và kết thúc bằng lời kinh “Magnificat”, lời kinh tạ ơn của Đức Mẹ thuở
xưa. Tới nơi đã định, lính tháo gông cùm cho cha. Cha liền đứng trên chiếc chiếu
đã được trải sẵn, và nhìn khắp tứ phía có ý tìm cha Thịnh để lãnh ơn thứ tha lần
cuối. Nhưng cha Thịnh vì không rõ giờ hành quyết nên chưa đến.
Một lý hình thấy chiếc áo cha mặc đẹp quá nên tình nguyện chém cha. Anh
ta nói dối rằng anh phải xử lăng trì để cha cởi áo ra cho nó lấy. Hắn còn đòi đút
tiền để chém sao cho mau chết. Vị anh hùng chỉ cười và nói: “Có hề chi đâu, càng
lâu càng tốt.” Rồi đưa tay cho hắn trói vào cột. Ba hồi chiêng trống vừa dứt, lý
hình vung gươm chém lần thứ nhất, gươm trượt qua một bên vào má. Nhát
gươm thứ hai, y bổ đầu cha ra làm đôi. Năm đó, cha Ven mới 32 tuổi.
Các giáo hữu phải nộp tiền để xin an táng thi hài và chuộc lại y phục của cha.
Còn thủ cấp cha bị bêu trên cây ba ngày rồi thả trôi sông, sau các người thuyền
chài vớt được đem về tôn kính. Năm 1865, hài cốt vị tử đạo được chuyển về an
táng tại chủng viện Thừa Sai Paris.
Ngày 02.05.1909, Đức Thánh Cha Pio X suy tôn cha Gioan Théophane
VÉNARD VEN lên bậc Chân Phước. Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng rất ngưỡng mộ
đời sống và những suy tư của cha Vénard. Thánh nữ đã trích dẫn nguyên đoạn
văn cha viết cho phụ thân, rồi tiếp: “Tư tưởng và tâm hồn của tôi cũng giống như
tư tưởng và tâm hồn của ngài.”