Lời Chúa Hôm Nay Thứ Hai, 15/6/2026
Ngày kính Ngày 14 tháng 11

Chứng nhân đức tin

Thánh Stêphanô Théodore CÚENOT THỂ

Thánh Stêphanô Théodore CÚENOT THỂ, Giám mục Thừa Sai Paris (1802 – 1861) Như một Phaolô ngày xưa. Cuộc đời thánh Giám mục Cuénot Thể với 32 năm phục vụ Giáo Hội Việt Nam, 26 năm trong chức vụ Giám mục, gắn...

Giám mục Thừa Sai Paris 1802 - 1861 Xử trảm
Chức vụ Giám mục Thừa Sai Paris
Năm sinh - tử đạo 1802 - 1861
Ngày kính Ngày 14 tháng 11
Cách tử đạo Xử trảm

Tiểu sử

Thánh Stêphanô Théodore CÚENOT THỂ, Giám mục Thừa Sai Paris
(1802 – 1861)
Như một Phaolô ngày xưa.
Cuộc đời thánh Giám mục Cuénot Thể với 32 năm phục vụ Giáo Hội Việt
Nam, 26 năm trong chức vụ Giám mục, gắn liền với những trang sử đẹp nhất,
giữa một giai đoạn khó khăn nhất thời bách hại. Nhiệt tâm truyền giáo của ngài
như ngọn thủy triều dâng tràn đến mọi người mọi nơi. Với tài đức khéo léo, ngài
đã đào tạo một đội ngũ linh mục xuất sắc và hàng ngàn thầy giảng, nữ tu hăng
say. Với châm ngôn “Để tín hữu vững tin, phải đào tạo những tông đồ truyền
giáo”, nên dù cho bao linh mục, tu sĩ, giáo dân của ngài bị tàn sát, địa phận Đàng
Trong của ngài vẫn phát triển mạnh mẽ, đủ sức tách làm bốn địa phận. Số linh
mục, tu sĩ, tân tòng gia tăng nhanh mỗi năm, sẽ mãi mãi là bằng chứng của nhiệt
tâm và tài tổ chức của ngài.
Stêphanô Théodore Cuénot sinh ngày 08.02.1802 tại Sous Réamont thuộc
Bélieu, nước Pháp. Lớn lên cậu vào chủng viện Besançon, trung tâm huấn luyện
của cha Réceveur, và thụ phong linh mục ngày 24.09.1825. Tuy thế, hoài bão
chính của tân linh mục là đi truyền giáo. Năm 1828, cha Cuénot xin gia nhập
Hội Thừa Sai Paris, và năm sau được cử đến Việt Nam. Ngày 31.05.1829, cha
đến Kẻ Vĩnh, địa phận Đàng Ngoài. Ngày 24.07, cha vào miền Nam.
Mới đầu cha được gửi đến Lái Thiêu để học thêm tiếng Việt, đồng thời dạy
các chủng sinh tại đó. Bốn năm dạy ở chủng viện, tuy là thời gian ngắn ngủi,
nhưng cũng đủ để cha hiểu nhiều về phong hóa địa phương, gắn bó với các cộng
tác viên trong tương lai. Năm 1833, vua Minh Mạng ra chiếu chỉ cấm đạo trên
toàn quốc, triệt hạ các nhà thờ, tập trung các thừa sai và bắt các tín hữu phải bỏ

đạo. Vì mới lần đầu va chạm với bách hại, các tín hữu lúc đó chưa dám chứa chấp
các vị thừa sai. Đức cha Tabert Từ liền quyết định đưa các vị di tản qua Thái Lan.
Cha Thể phụ trách việc di chuyển 15 chủng sinh. Sau hơn một tháng rưỡi hành
trình vất vả, đoàn người đã đến Thái Lan và được vua Thái tiếp đón nồng nhiệt.
Thời gian đó, Thái Lan và Việt Nam đang có chiến tranh, nên vua Thái Lan
muốn nhờ các vị thừa sai kêu gọi dân Công Giáo chống lại vua Minh Mạng. Dĩ
nhiên là Đức cha Tabert Từ không thể nào chấp nhận, ngài cương quyết từ chối.
Điều đó làm vua Thái nổi giận và thay đổi cách cư xử. Nhà vua ra lệnh bắt giam
ba linh mục và các chủng sinh Việt Nam. May là nhờ tài ăn nói thuyết phục của
cha Thể, vua mới nương tay và cho họ đến ẩn náu tại chủng viện Pénang (Mã
Lai) năm 1834. Cha nói: “Bằng mọi giá phải lo cho họ. Như tôi (một thừa sai)
chết, người ta có thể gửi người khác thay thế chậm lắm là một năm. Một linh
mục, chủng sinh Việt Nam nằm xuống, phải mất hai ba chục năm mới có người
thay thế được.”
Cũng năm đó, vì không ủng hộ Thái Lan đánh Việt Nam, Đức cha Tabert Từ
lại phải chạy đến Singapore.
Hoa tiêu giữa sóng gió.
Tuy sống cách xa nghìn dặm, Đức cha, cha Thể và các vị thừa sai vẫn hướng
tâm hồn về Giáo Hội Việt Nam đang lâm cảnh máu chảy đầu rơi, vừa thương xót
vừa thán phục, các ngài tìm cách trở lại miền đất truyền giáo này. Năm 1835,
Đức cha Tabert có quyết định mới. Khi thấy trên mảnh đất Lạc Hồng chỉ còn hai
thừa sai và 10 linh mục Việt Nam, Đức cha liền đáp tàu sang Pénang, truyền
chức Giám mục cho cha Thể, chọn làm phụ tá mình, và cử vị tân Giám mục cấp
tốc trở về địa phận.
Trở lại Việt Nam trong những ngày bách hại khốc liệt, sự hiện diện của Đức
cha Thể quả là niềm an ủi lớn lao cho các tín hữu. Đặt trụ sở ở Gò Thị, tỉnh Bình
Định, Đức cha thấy mình không thể đi thăm hết các họ đạo được, ngài liền viết

thư luân lưu gửi đến khắp nơi để cổ võ tinh thần đạo đức của giáo hữu. Từ nay
tất cả các biến cố trong địa phận: những cuộc càn quét của quân lính, những
chứng nhân bị bắt giam, những cuộc tử đạo cho đến những thành quả tông đồ,
đều được người cha chung địa phận cảm thông, viết thư khen ngợi, ủy lạo hay
khích lệ. Nhờ đó các linh mục và giáo hữu đều thấy thêm can đảm.
Việc Đức cha bận tâm nhất là số lượng các linh mục phục vụ. Ngoài hai linh
mục đã theo ngài về từ Thái Lan, năm 1835, Đức cha truyền chức cho 10 thầy
giảng. Năm sau, ngài xin Hội Thừa Sai được thêm sáu linh mục. Là người sáng
suốt nhìn xa trông rộng, Đức cha cho tái lập hai chủng viện, một ở Huế trao cho
cha Candalh Kim và một ở miền Nam trao cho cha Lefèbvre Nghĩa. Đồng thời
Đức cha cũng gọi các nữ tu Mến Thánh Giá trước đây đã phải phân tán về gia
đình (250 dì) trở lại sống chung và hoạt động trong 18 nhà phước.
Ngày 31.07.1840, Đức cha Tabert Từ qua đời tại Calcutta (Ấn Độ), Đức cha
Thể chính thức làm đại diện Tông tòa. Năm sau, ngài tổ chức lễ tấn phong cho
tân Giám mục Lefèbvre làm phụ tá. Lợi dụng tình hình lắng dịu hơn, ngài tổ
chức Công đồng Gò Thị (1841) gồm ba thừa sai và 13 linh mục Việt trong địa
phận
. Công đồng dưới sự điều khiển của Đức cha Thể, đã đưa ra những nguyên
tắc sáng suốt để đào tạo một lớp linh mục bản xứ đông đảo và nhiệt thành. Nếu
việc mở chủng viện khó khăn, mỗi thừa sai có trách nhiệm dạy sáu bảy em, rồi
gửi qua Pénang học bảy năm. Họ sẽ về Việt Nam thụ phong linh mục và làm
việc. Cách tổ chức ấy thực tế đã cung cấp cho địa phận Đàng Trong một số khá
đông linh mục thông thái và đạo đức.
Vị chủ chăn nhiều tài năng và sáng kiến.
Dù hoàn cảnh khó khăn, Đức cha vẫn quan tâm đến việc nâng cao kiến thức
và nhân đức cho hàng giáo sĩ, mỗi năm ngài gửi cho các linh mục những bài học
hỏi về tín lý, luân lý. Các cha sẽ viết bài rồi nộp trong kỳ tĩnh tâm hàng năm. Sau
đó, chính Đức cha đọc, sửa bài và gửi thư nhắn nhủ cho từng linh mục. Đối với

giáo hữu, Đức cha chủ trương rằng: “Phương pháp tốt nhất để đức tin của giáo
hữu vững vàng là đào tạo họ thành những tông đồ truyền giáo.” Thực vậy, nhờ
giải thích cho người khác về giáo lý, các giáo hữu càng ngày càng xác tín hơn về
niềm tin của mình. Hơn nữa, họ tự thấy nghĩa vụ làm gương cho anh em tân tòng
về đời sống đạo và tinh thần can đảm giữ vững đức tin.
Đối với những giáo hữu vì sợ hãi đã xuất giáo, đạp lên Thánh Giá, Đức cha
sẵn lòng thay mặt Chúa tha thứ. Nhưng ngài xin họ nhận một điều kiện là hứa
giúp cho một lương dân theo đạo Công Giáo. Bên cạnh đó, hàng năm Đức cha
làm thống kê báo tin xứ đạo nào có nhiều tân tòng hơn, khiến các xứ thi đua làm
việc tông đồ. Đặc biệt phải nói đến lòng can đảm của các nữ tu Mến Thánh Giá.
Các chị chia nhau, cứ hai người một, đi hết các làng mạc, phát thuốc men cho
bệnh nhân, và khi có thể, rửa tội cho trẻ em sắp chết. Nếu năm 1835, khi Đức
cha mới về nước (Việt Nam), số trẻ em ngoại giáo được rửa tội là 133 em, thì
năm 1841 là 1.800 em và năm 1843 là 8.273 em. Năm 1844, số trẻ em gia đình
Công Giáo được rửa tội là 5.056 thì số người lớn trở lại và rửa tội là 1.007, nghĩa
là một phần năm.
Nhiều giáo hữu sẵn sàng bỏ tiền bạc, công sức nuôi giùm trẻ em những
người quá nghèo, chỉ với điều kiện là cho em gia nhập đạo. Lòng bác ái sâu xa ấy
quả là bài giảng hùng hồn về sức sống của Giáo Hội. Nhiều người thiện chí, và
đôi khi cha mẹ các em cũng xin trở lại vì những bài giảng sống này.
Một công trình lớn lao khác của Đức cha Thể là công cuộc truyền giáo cho
các dân tộc thiểu số mìền Thương du, đặc biệt là dân tộc Bahnar. Chính Đức cha
cử nhiều đợt người theo dõi, khích lệ và đưa ra những chỉ đạo thích hợp để anh
em Thượng nhận được Ánh Sáng Tin Mừng.
Những thành công lớn lao của Đức cha đã được Tòa Thánh công nhận năm
1844 khi phân chia địa phận Đàng Trong thành hai địa phận Đông (Qui Nhơn)
và Tây (Sài Gòn). Tiếp theo đến năm 1850, lại chia làm bốn là Nam Vang, Sài

Gòn, Bắc (Huế) và Qui Nhơn. Từ đây, Đức cha Thể chỉ coi sóc địa phận Đông
Đàng Trong, nhưng lại ở trong tình hình bách hại mới gay gắt hơn nhiều.
Lòng kính mến Đức Mẹ.
Trong 10 năm liền, nhờ sự che chở của các tín hữu và các nữ tu Mến Thánh
Giá, Đức cha và các linh mục thoát khỏi các cuộc truy lùng. Thế nhưng các ngài
phải thay đổi chỗ ở liên tục, nhiều khi ngủ ngoài trời “đêm sao”, có lúc phải vào
rừng sâu hay đầm lầy, chịu đói chịu khát, chịu khí hậu thất thường và nhiều lần
suýt chết trong khi thăm viếng bệnh nhân hay giải tội cho người hấp hối. Thế
mà trong thời gian này, Đức cha duy trì thường xuyên mối liên lạc với Tòa
Thánh. Đặc biệt khi được hỏi về tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm, ngài đã trao đổi với
các linh mục trong địa phận, rồi gửi thư bày tỏ lòng kính mến Đức Maria của
dân tộc Việt cho Tòa Thánh. Cuối thư, Đức cha viết: “
Xin Đức Thánh Cha cho con
được hiệp thông trong lời cầu nguyện cùng với tất cả các Giám mục khác trong ngày
Đức Thánh Cha long trọng công bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Tù tội vì rao giảng Tin Mừng.
Năm 1861, chiếu chỉ “phân sáp” của vua Tự Đức làm Giáo Hội Việt Nam
một phen điêu đứng. Đức cha Thể đã khuyên các thừa sai trong địa phận di tản
vào Sài Gòn, nhưng chính ngài tình nguyện ở lại, ngài đưa ra một phương châm
bất hủ: “Dù chỉ còn một thừa sai chẳng làm được gì ngoài đọc kinh thần vụ, thì
nguyên việc hiện diện của vị đó đủ để nâng đỡ niềm tin và sinh hoạt của tín hữu
rồi.”
Từ tháng 10, Đức cha phải bỏ Gò Thị trốn từ nhà này sang nhà khác. Ngày
24.10.1861, ngài đang ẩn ở nhà bà Madalena Hùynh Thị Lựu thì quân lính bao
vây nhà bà. Đức cha và hai chú giúp lễ kịp trốn xuống hầm, nhưng vừa dâng lễ
xong chưa kịp cất giấu đồ lễ. Vì chứng cớ ấy mà quân lính thề phá nhà, nếu
không tìm thấy đạo trưởng Tây dương. Mọi người trong nhà đều bị tra tấn, bà
Lựu bị đánh đòn 17 roi. Sau hai ngày và một đêm ở dưới hầm, Đức cha và hai

chú giúp lễ khát khô cả cổ. Vả lại vì quân lính chẳng bỏ đi, nếu chưa bắt được
Đức cha, nên ngài tự ra nộp mình. Vừa thấy ngài, quân lính chồm tới trói tay
chân ngài lại như một con thú. Nhưng viên chỉ huy nhân đạo hơn, cho cởi trói và
mời ngài ngồi chiếu nói chuyện với ông ta.
Hôm sau, Đức cha bị nhốt trong cũi đưa về tỉnh. Hai chú giúp lễ, bà Lựu và
hai người lân cận cũng bị mang gông giải đi (sau này tất cả cùng bị xử tử tháng
12). Bà Lựu vừa cho con bú vừa ra pháp trường, rồi hôn con lần cuối trao lại cho
bà ngoại.
Tháng 10 năm đó, miền Trung bị lụt, nước dâng lên đến lưng, nên ngồi
trong cũi chật chội, Đức cha cũng bị ngập nước. Do đó, khi đến nhà giam thì
Đức cha lâm trọng bệnh. Chứng bệnh kiết lỵ làm sức khỏe ngài càng đuối dần, vì
thế, ngài chỉ phải ra tòa một lần. Quan hỏi:
- Tại sao ông sang nước tôi?
- Thưa, để giảng đạo Thiên Chúa.
- Ông ở đây bao lâu rồi?
- Ba mươi bốn năm.
- Ông đã ở những đâu?
- Thưa, trước hết là Bình Định rồi Phú Yên, Bình Thuận và lại trở về Bình
Định.
- Ông biết gì về chiến tranh không?
- Thưa, không biết gì cả. Tôi đến đây chỉ để giảng đạo, khi nơi này khi nơi
khác thế thôi. Quan hành hạ thế nào tôi cũng đành chịu, chứ tin tức chiến tranh
tôi hoàn toàn không biết gì cả.
Trở về với chiếc cũi của mình, cơn bệnh khắc nghiệt chỉ trong vòng ba tuần
lễ đã làm Đức cha kiệt sức và thở hơi cuối cùng ngày 14.11.1861, kết thúc 32
năm truyền giáo không một ngày bình an. Hôm sau, ngày Đức cha qua đời, bản
án trảm quyết từ Huế mới tới Bình Định. Thấy ngài đã từ trần, quan Trấn thủ

Bình Định không cho chém nữa, truyền đem đi chôn. Những tín hữu đang bị tù
xin phép mua cho Đức cha một áo quan xứng đáng, nhưng Trấn thủ không chấp
thuận. Nhưng sau đó, triều đình lại gửi ra một một bản án mới ghi thế này: “Tây
dương đạo trưởng Thể đã lẩn lút trong nước ta 40 năm nay. Y đã giảng đạo và
lừa dối dân chúng. Bị bắt và tra hỏi, y đã thú nhận mọi tội lỗi. Lẽ ra phải chém
đầu y bêu lên giữa chợ, nhưng vì y đã chết trong tù, ta truyền phải quăng xác y
xuống sông.”
Chiếu theo bản án ấy, quan Trấn thủ cho đào mồ Đức cha lên, để liệng thi
hài ngài xuống sông. Mặc dù Đức cha Cuénot Thể không đổ máu vì đức tin,
nhưng căn cứ vào bản án và muôn ngàn nỗi truân chuyên ngài đã chịu vì đạo,
Giáo Hội tôn kính Đức cha với tước hiệu tử đạo.
Ngày 02.05.1909, Đức Piô X nêu danh Đức cha Stephanô Théodore Cuénot
Thể đứng đầu danh sách 20 vị tử đạo tại Việt Nam được suy tôn lên bậc Chân
Phước cùng ngày.