Chứng nhân đức tin
Thánh Phaolô PHẠM KHẮC KHOAN
Phaolô Phạm Khắc Khoan sinh năm 1771 tại làng Bồng Hải, tỉnh Ninh Bình, thuộc địa phận Tây Đàng Ngoài. Sau khi thụ phong linh mục, cha phụ trách xứ Kẻ Vĩnh, rồi xứ Phúc Nhạc, nơi đông dân cư nhất trong...
Tiểu sử
Phaolô Phạm Khắc Khoan sinh năm 1771 tại làng Bồng Hải, tỉnh Ninh Bình,
thuộc địa phận Tây Đàng Ngoài. Sau khi thụ phong linh mục, cha phụ trách xứ
Kẻ Vĩnh, rồi xứ Phúc Nhạc, nơi đông dân cư nhất trong tỉnh. Cha Khoan rất
hăng say hoạt động tông đồ, ngoài xứ chính ra, cha còn phụ trách thêm hai họ
Đông Biên và Tôn Đạo. Mỗi tháng ngài đều đến họ lẻ dâng lễ, giải tội và khích lệ
giáo hữu sống đạo đức, gương mẫu hơn. Mỗi lần đi như vậy, cha thường dẫn theo
một vài thầy giảng để giúp dạy giáo lý và tiếp xúc sâu sát hơn với quần chúng.
Năm 1837, có hai thầy cùng đi với cha về giúp họ Đông Biên là thầy Phêrô
Nguyễn văn Hiếu 60 tuổi, người làng Đồng Chuối, và thầy Thánh Gioan
Baotixita Đinh Văn Thành, 41 tuổi, gốc Luốn Khê (Phát Diệm). Trên đường trở
về, cả ba cha con bị bắt và bị giải về Ninh Bình. Khi đó cha Khoan đã 60 tuổi.
Trước lời đường mật...
Vì kính trọng cha tuổi cao lại có tướng người phúc hậu, một hôm quan Tổng
trấn mời ngài đến và nói:
- Ta muốn kết thân với ông. Ta chỉ muốn tìm cách cứu mạng ông thôi. Xin
ông chịu khó chấp nhận bước qua Thập Giá.
Cha trả lời:
- Mấy tháng qua ở trong tù, tôi đã suy tính kỹ lắm rồi, nhưng càng nghĩ, tôi
càng xác tín hơn, càng cương quyết giữ vững đức tin cho đến chết.
Rồi cha kể lại chuyện xảy ra năm 1802:
“Khi đó, Thế Tổ Gia Long, phụ thân của Hoàng đế ra Hà Nội, chúng tôi có
đến ra mắt. Ngài hứa cho chúng tôi giảng đạo, xây nhà thờ và các nhà bác ái.
Ngài yêu cầu chúng tôi cổ động dân chúng sống thuận hòa và chăm chỉ làm ăn.
Từ đó đến nay, tôi vẫn vâng lệnh vua, nhắc nhở bà con làm điều tốt, tránh điều
xấu. Tôi thờ Vua trên trời và tuân phục vua dưới đất, tôi vẫn xin Vua trên trời
ban ơn cho các quan, để thời các ngài được thái bình thịnh trị. Sao hôm nay quan
lại bảo tôi bỏ lệnh Tiên đế mà tôi đã tuân hành biết bao năm nay?
- Thế ông không muốn sống à?
- Thưa quan, mọi sinh vật đều muốn sống, huống chi là con người có suy
nghĩ. Ai biết giá trị cuộc sống mà chẳng ham sống. Thế nhưng với người Kitô
hữu, chết là cách sống đời đời trên Thiên đàng.
- Ai bảo ông là có Thiên đàng?
- Đó là chuyện đương nhiên. Như nhà vua vẫn ban thưởng cho các trung
thần, thì Chúa trời đất chẳng những không ban thưởng cho những tôi trung
phục vụ Người đến chết sao? Nơi tưởng thưởng đó, chúng tôi gọi là Thiên đàng.
- Vậy ai dạy cho ông biết là có Chúa trời đất?
- Thưa Tổng trấn, không cần phải ai dạy cả, chính trời đất vũ trụ là cuốn
sách mở ra dậy ta bài học đó. Nhìn ngắm những công trình kỳ diệu của thiên
nhiên, tức khắc phải nhận ra có Đấng Sáng Tạo và gìn giữ nó. Chúng tôi gọi
Đấng Tạo Hóa đó là Chúa Trời và tôn thờ Người.”
Vì hy vọng thời gian sẽ làm cho các anh hùng đức tin nản chí, quan tìm cách
trì hoãn vụ án thật lâu. Thấm thoát ba vị đã ở tù được gần ba năm. Thỉnh thoảng
quan lại gọi ra tòa đề nghị bước qua Thập Giá. Mới đầu thì khuyên dụ ngọt
ngào, sau dùng cực hình để cưỡng bách, nhưng không cách nào có thể làm các vị
thay đổi lòng dạ.
Thái độ hai thầy giảng cũng làm cho mọi người bỡ ngỡ thán phục. Dù bị
hành hạ dã man đến đâu, hai thầy cũng vẫn thản nhiên nhẫn nại, không bao giờ
trách mắng chửi rủa, chỉ lập đi lập lại một điều: “Dù sống dù chết, chúng tôi
không bao giờ bỏ đức tin.” Niềm an ủi lớn nhất của hai thầy là được ở gần cha
Khoan, sớm hôm tâm sự và thỉnh thoảng lãnh bí tích giải tội. Các thầy coi những
ngày tù như thời gian thanh luyện để lập công, đền bù những lỗi lầm từ thơ ấu.
Đôi khi có người khéo léo đưa được Mình Thánh Chúa vào tù, đó là những ngày
sung sướng và hạnh phúc nhất của ba vị.
Một lần cha Khoan nói thẳng với quan án rằng:
- Quan bảo tôi chà đạp Thập Giá là điều chẳng hợp lý chút nào?
Quan hỏi:
- Sao lại không hợp lý, ta chỉ cho ông con đường sống mà không hợp lý à?
Cha nói:
- Thưa quan, nếu nước nhà có biến, mà quan sợ chết đào ngũ thì quan là kẻ
hèn nhát. Cũng vậy, tôi nhờ ơn Vua Cả trên Trời, tôi đâu có quyền sợ chết mà bỏ
Người được.
Lời chứng cuối cùng... và bài ca Phục Sinh.
Khi thấy hoàn toàn thất vọng trước sự kiên tâm quyết chí của ba người “lính”
Chúa Kitô, quan đành quyết định ký án gửi về triều đình xin phép. Trong những
ngày chờ đợi cuối cùng đó, trại giam Ninh Bình vang vọng những tiếng hát hân
hoan. Đó là tiếng cha Khoan và hai thầy giảng hát lên lời kinh Tạ Ơn. Cha một
câu, hai thầy một câu, nhịp nhàng rộn rã. Trên đường ra pháp trường, ba vị vẫn
không ngừng cất tiếng ca những lời tri ân đó.
Tại pháp trường ngày 28.04.1840, cha Khoan xin phép nói với dân chúng đôi
lời:
“Thưa đồng bào và các bạn hữu, chúng tôi không phạm tôi ác, không chống
lại vua, không lỗi luật nước. Chúng tôi chết chỉ vì là Kitô hữu, và vì không chịu
bỏ đạo Kitô là đạo duy nhất chân thật.”
Lính đẩy ba vị vào khu vực riêng xa tầm mắt dân chúng. Ba vị giơ tay lên
trời, hai thầy hiệp ý cầu nguyện với vị linh mục:
“Vinh danh chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa, Chúa trời đất. Chúng con hiến
dâng mạng sống cho Ngài. Xin Chúa chúc phúc cho nhà vua được cai trị lâu dài
trong an bình. Xin biến đổi trái tim vua, để vua tin theo đạo thật, đạo duy nhất
có thể đem lại cho con người hạnh phúc đích thực.”
Tiếp theo, ba vị lại cầu nguyện bằng Thánh ca. Như trong đêm Phục sinh,
cha Khoan hát lên ba lần Alleluia, Alleluia, Alleluia, mỗi lần với cung giọng cao
hơn. Xen kẻ vào đó, hai thầy giảng cũng hát thay cho cộng đoàn theo cao độ của
vị chủ sự: Alleluia, Alleluia, Alleluia. Sau đó, lý hình thi hành phận sự. Ba cái đầu
cùng rơi xuống, đưa ba vị thánh về hợp xướng với ca đoàn thiên thần trên Thiên
Quốc với khúc hát Phục Sinh Alleluia bất diệt. Năm đó, cha Khoan 69 tuổi, thầy
Hiếu 63 tuổi, thầy Thành 44 tuổi. Thầy giảng Huấn chứng kiến từ đầu vụ hành
quyết, đã lãnh thi thể ba vị về Phúc Nhạc an táng theo nghi lễ Công Giáo.
Đức Lêo XIII suy tôn cha Phaolô Phạm Khắc Khoan, hai thầy Phêrô Nguyễn
Văn Hiếu và Giaon Baotixita Đinh Văn Thành lên bậc Chân Phước ngày
27.05.1900.
Tâm tình Đức cha Retord Liêu trong thư gửi cha Khoan.
“
Sách có câu: chết vinh hơn sống nhục. hãy coi chừng kẻ bội giáo, cuộc đời họ đáng
tủi hổ biết bao. Ngược lại khắp bốn phương thiên hạ đền vang lời khen ngợi những ai
chết cho đức tin. Các vị tử đạo như tiếng kèn Thiên Quốc với âm điệu vang lừng muôn
người lắng nghe. Những kẻ chối đạo, ở lại trần gian chỉ chờ lưỡi rìu chặt đem về tiếp
lửa cho Hỏa ngục.”
“Máu các vị tử đạo như giọt sương đêm tưới mát vườn hoa Giáo Hội, làm nó thêm
phong nhiêu (Phong phú và phì nhiêu). Tôi viết cho cha những lời vắn tắt vội vã này.
Ước mong nó thành ngọn gió đưa cha lướt êm đến bến bờ Quê Hương. Ước mong nó
thành đóa hoa rực rỡ với làn hương thơm tỏa ngát niềm vui tô thắm tâm hồn cha trong
cuộc chiến cuối cùng. Xin kính cẩn tạm biệt cha. Xin kính cẩn hôn lên gông cùm xiềng
xích của cha. Trong lúc cầu nguyện, xin đừng quên tôi nhé!
” (Launay III, tr. 37-38).
* * *
Bức tranh diễn tả cuộc hành quyết ba Thánh Khoan, Hiếu và Thành:
(Tranh của Hội Thừa Sai Paris)
Phía phải bên trên diễn tả lúc Thánh Hiếu bị chém đầu. Vì chiếc kiếm cùn, lính
phải chém tới ba lần mới đứt. Phía phải bên dưới là cảnh Thánh Thành bị một
người lính đang cắt đứt mảnh da cổ còn sót lại. Cạnh đó là Thánh Khoan đã bị
hành quyết xong. Một người lính giơ cao thủ cấp cho mọi người coi. Một người
lính khác cọ lưỡi kiếm dính máu Thánh nhân vào bàn chân y, có ý hòa máu
Thánh nhân với máu y để hồn y được thanh thoát. Dưới chiếc cồng có một người
đàn bà ngồi với một thúng quà, để hối lộ quan quân cho lãnh xác các Thánh về.