Chứng nhân đức tin
Thánh Luca VŨ BÁ LOAN
Luca Vũ Bá Loan sinh năm 1756 ở họ Bút Quai, địa phận Tây Đàng Ngoài. Từ niên thiếu, cậu đã dâng mình cho Chúa, rồi tu học ở Phú Đa và Kẻ Bèo.
Tiểu sử
Luca Vũ Bá Loan sinh năm 1756 ở họ Bút Quai, địa phận Tây Đàng Ngoài.
Từ niên thiếu, cậu đã dâng mình cho Chúa, rồi tu học ở Phú Đa và Kẻ Bèo. Sau
khi thụ phong linh mục, cha Loan đến giúp xứ Nam Sang sáu tháng, rồi về giúp
cha già Liêm xứ Kẻ Vồi. Năm 1828, khi Đức cha Longer Gia chia xứ Kẻ Vồi làm
hai thì cha Loan nhận xứ mới là Kẻ Sở cho đến ngày bị bắt. Trong nhiệm vụ linh
mục, những người biết cha đều học được nơi cha một mẫu gương sáng ngời về
các nhân đức. Đặc biệt là lòng yêu mến Chúa, nhiệt tâm phục vụ các linh hồn và
nếp sống thanh bạch.
Cha Loan chăm chú nhiều về việc giảng dạy. Vào mùa Chay, một ngày cha
giảng ba lần. Bài giảng của Cha ngắn gọn, đơn sơ, dễ hiểu, nhưng rất thực tế với
những chỉ dẫn áp dụng cụ thể trong cuộc sống. Cha ít dùng lý luận, cha nói bằng
kinh nghiệm bản thân mình về Đấng cha đã gặp gỡ thực sự trong kinh nguyện
và thánh lễ.
Khi cầu nguyện cha như xuất thần, quên hết mọi chuyện chung quanh, dù ai
gây tiếng động sát bên cũng không làm cha gián đoạn cuộc tiếp xúc với Đấng
linh thiêng được. Hầu như cha không bỏ dâng lễ bao giờ. Thánh lễ cha cử hành
có mầu sắc trang nghiêm khoan thai, cung kính đặc biệt. Một thầy giảng góp ý
xin cha dâng lễ nhanh lên như các linh mục khác. Cha giải thích:
“Không được con ạ. Lễ Misa là việc cao trọng nhất trên trần gian. Không có
gì đáng để chúng ta cử hành thánh lễ cách vội vã cả. Việc thờ phượng Chúa cần
phải làm cho trang nghiêm sốt sắng.”
Và thánh lễ của cha chưa kết thúc ở lời chúc bình an, cha thường quỳ lại lâu
giờ trước Thánh Thể để tạ ơn Chúa.
Cha Loan đã thưa gì với Chúa`trong giờ kinh nguyện? Có Chúa mới biết
được. Phải chăng cha xin Chúa dạy những gì phải giảng, hay là cầu nguyện cho
tín hữu trong xứ, cầu nguyện cho Giáo Hội, cho đồng bào...? Có điều chắc chắn:
Song song với những kinh nguyện đó, cha thường xuyên đến thăm những người
nghèo khó bệnh tật, cha tận tâm nuôi dạy một vài em hiền lành nhanh nhẹn để
chuẩn bị linh mục cho tương lai, và cha nhiệt thành hướng dẫn giúp đỡ nhiều tín
hữu sống thân ái với mọi người, dù có đạo hay không.
Một đặc điểm khác nơi cha Loan là lòng khiêm tốn trong phục vụ. Khi Đức
cha gửi linh mục phó xứ về Sở, cha tín nhiệm, khích lệ và nâng đỡ tận tình. Cha
nói: “Xin trao phó mọi sự cho cha, tôi đã già lại chậm chạp. Xin cha coi sóc cửa
nhà, người giúp va coi sóc cả tôi nữa.” Tuy được giáo dân sẵn sàng trợ cấp mọi
nhu cầu cần thiết, nhưng cha Loan tự giới hạn cho mình. Cha muốn sống nghèo
khó theo gương Đức Giêsu. Áo quần, cha mặc cho đến sờn rách, vá trên vá dưới
mới chịu dùng cái khác. Ăn uống cha dùng những món bình dân như người
trong xứ. Khi đi giảng ở đâu, nếu ai dọn “mâm sang cỗ đầy” một chút là được cha
tỏ thái độ liền. Đức cha Jeantet Khiêm ca tụng cha rằng: “Thầy xét các việc cha
Loan làm từ khi chịu chức linh mục đến ngày tử đạo, thầy thấy có lẽ trong số
linh mục Việt Nam từ trước đến nay không ai sánh bằng.”
Bị sa tay kẻ gian...
Bấy giờ có hai người là Bá hộ Kiểng ở làng Bún và Đô Cang ở phố Vồi. Cả
hai đều ngoại giáo và hiện đang chờ xét xử vì phạm pháp. Họ bàn tính với nhau
đến bắt cha Loan để lập công chuộc tội. Thế là tối ngày 10.01.1840 tại họ Kẻ
Chuôn, khi cha vừa dùng cơm xong, họ giả làm khách đến thăm cha, rồi mời
xuống thuyền chở thẳng về làng Bún. Các tín hữu khi nghe biết tin đến xin
chuộc, họ đòi 2.000 quan. Cha Loan thương giáo hữu nghèo nên trình bày: “Các
anh đòi 200 may ra còn liệu được, chứ bạc ngàn thì vô phương”. Bá hộ Kiểng
định hạ giá xuống, nhưng Đô Cang không chịu, vì muốn nộp cha để được giảm
án của mình.
Hai người đem nộp cha cho quan huyện Phú Xuyên, nhưng quan không chịu
nhận. Họ lại đưa cha về thẳng Thăng Long. Vừa đến công đường, quan đầu tỉnh
chỉ thẳng mặt hai ông mắng rằng: “Quân dại dột, sao bay đang tâm bắt người
hiền lành đạo đức, lại đáng tuổi cha ông chúng bay thế này?” Tuy nhiên vì vua
Minh Mạng đã ra lệnh bắt đạo, và việc cha Loan bị bắt đã công khai, quan đành
phải ra lệnh giam cha lại.
Tuổi cao nhưng vững vàng sáng suốt.
Tuy phải ra tòa hai lần, nhưng cha luôn được các quan đối xử lịch sự và kính
trọng mái đầu bạc. Các quan chỉ điều tra lý lịch và khuyên cha nên đạp Thánh
Giá. Cha tìm cách nói khéo đi rằng:
“Các linh mục nuôi tôi và Đức cha truyền chức cho tôi thì đã chết cả rồi. Địa
chỉ tôi thì nay đây mai đó, chỗ nào không chứa, tôi ẩn vào chùa nọ đình kia.
Riêng việc quá khóa thì thưa quan, tôi là đạo trưởng, làm sao tuân điều đó
được?”
Khi quan hỏi sao lại theo đạo ngoại quốc, cha trả lời: “Tôi chẳng theo Chúa
của nước nào cả, tôi chỉ thờ Chúa trời đất, Chúa của muôn dân thôi.”
Trong trại giam, cha Loan không hề bị gông cùm, vì các tín hữu đút tiền cho
lính canh và nói: “Cụ già quá rồi, có bảo trốn cũng chẳng được, mấy anh cùm
làm chi?” Lính thông cảm tuổi già nên không cùm cha một ngày nào. Một lần
quan tỉnh xuống trại giam gặp cha, dặn dò lính canh: “Cụ già tuổi tác cao, phải
xử cho hẳn hoi, đừng cấm người ta vào thăm.” Nhờ thế, trong những ngày tháng
giam tù, cha Loan được rất nhiều người thăm nuôi tiếp tế. Quà biếu nhận được,
cha chia sẻ cho lính và các bạn tù nên càng được họ quý mến.
Tuy không thiếu thốn vật chất, nhưng vì sức yếu tuổi già, lại phải ở nơi chật
hẹp hôi hám, sau một tháng tù cha Loan trở bệnh nặng, chân phù, mặt sưng cộng
với căn bệnh suyễn kinh niên, làm cha kiệt quệ, nhiều lúc tưởng không hy vọng
đi tới đích cùng lãnh phúc tử đạo. Viên cai nguc thấy thế tội nghiệp, tâu trình và
xin phép quan cho một tín hữu họ đạo Chuôn Trung ở luôn trong tù chăm sóc
cha cho đến ngày xử tử. Hai ba giáo xứ nài nỉ cha làm tờ di chúc thi hài sau khi
chết cho xứ mình. Cha chỉ cười nói: “Xác tôi cũng là tro bụi, chết rồi cũng tanh
hôi cho giòi bọ rúc rỉa, các ông xin làm chi?”. Thế nhưng cha nhận lời ký giấy
trao thi thể cho họ Chuôn Trung, xứ Kẻ Chuông, tức là xứ đạo của người giúp
cha trong tù, được lo liệu mai táng khi cha khải hoàn về Thiên Quốc
Vinh phúc thiên thu.
Quan tỉnh Hà Nội tuy quý trọng cha, nhưng lai sợ vua Minh Mạng, nên khi
thấy cha cương quyết không bỏ đạo, ông đành làm án xử trảm quyết. Vua Minh
Mạng châu phê và ra lệnh thi hành. Trước ngày xử, một giáo dân tìm cách đưa
cha Tuấn vào tù giải tội và trao Mình Thánh cho cha già.
Đúng ngày 05.06.1840, quân lính tình nguyện cáng cha già Loan ra pháp
trường, nhưng cha cám ơn từ chối. Vì trời nắng gay gắt, cha chỉ chấp nhận cho
hai tín hữu đi hai bên cầm lọng che nắng. Viên quan giám sát chủ trì phiên xử
thấy cha đi bộ cũng bỏ ngựa, giao cho một người lính, rồi cùng ra cửa ô Cầu
Giấy là nơi thi hành bản án. Đến nơi, ông nói với cha: “Cụ muốn làm gì thì làm
đi.” Cha Loan quỳ xuống cầu nguyện, rồi vui vẻ đưa tay cho lính cột trói vào cọc.
Mười người lính được chì định chém cha Loan bỗng trốn đi đâu hết. Uy tín của
cha quá lớn, đến độ họ cứ sợ sau khi chết, hồn cha sẽ nhập vào họ trả thù chăng.
Để giải quyết vấn đề, quan liền sai một người lính Nam bộ. Anh Minh, người lý
hình bất đắc dĩ đó đã đến lạy cha Loan và biện bạch rằng: “Việc vua truyền
chúng cháu phải làm, xin cụ xá lỗi cho, cháu sẽ giúp cụ chết êm ái. Khi về trời cụ
nhớ đến cháu nhé.” Cha Loan gật đầu, rồi ra hiệu cho anh thi hành phận sự. Chỉ
một nhát chém, cha giã từ trần thế về Thiên Quốc. Các tín hữu xông vào cởi áo,
thấm máu vị tử đạo như một chứng tích anh hùng của người cha tuy già yếu
nhưng mạnh mẽ về niềm tin.
Được ân huệ trăn trối, xứ Kẻ Chuôn đem thi hài cha về chôn cất ở họ mình.
Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn cha Luca Vũ Bá Loan lên bậc Chân Phước
ngày 27.05.1900.