Chứng nhân đức tin
Thánh Martinô TẠ ĐỨC THỊNH
Martinô Tạ Đức Thịnh sinh năm 1760 tại làng Kẻ Sét, huyện Thanh Trì, nay thụôc khu vực Hà Nội, trong một gia đình nề nếp. Năm 18 tuổi, gia đình định cho anh kết duyên với một thiếu nữ thùy mị,...
Tiểu sử
Martinô Tạ Đức Thịnh sinh năm 1760 tại làng Kẻ Sét, huyện Thanh Trì, nay
thụôc khu vực Hà Nội, trong một gia đình nề nếp. Năm 18 tuổi, gia đình định
cho anh kết duyên với một thiếu nữ thùy mị, duyên dáng và đạo hạnh, nhưng
anh xin hoãn lại để suy nghĩ, và sau cùng quyết định xin đi tu dâng mình cho
Chúa. Thầy Thịnh thụ phong linh mục trong thời Cảnh Thịnh cấm đạo. Cha làm
bí thư cho Đức cha Giacôbê Longer Gia một thời gian, đã tháp tùng Đức cha đến
yết kiến vua Gia Long về đăng quang tại Thăng Long năm 1803.
Theo sự bổ nhiệm của Đức Giám mục, cha phục vụ tại nhiều giáo xứ: trước
tiên là Cửa Bạng rồi Đồng Chuối, sau về xứ Nam Sang phục vụ hai mươi năm
liền. Cuối cùng, làm cha sở xứ Kẻ Trình khi đó cha đã gần 80 tuổi. Ngài là một
người cha già, đạo đức, hiền lành, được tất cả các tín hữu kính nể và yêu mến.
Một hôm cha bị nhọt ở má, rồi lở miệng, nửa hàm răng bị mưng mủ và đau
nhức khôn tả. Ông Còn lên thăm, thấy tình cảnh cha như vậy liền rước về nhà
cháu ở Kẻ Báng để chăm sóc chữa trị. Được độ tám tháng, cha bị bắt cùng hai chị
Nghi và Ngân.
Tai họa cho làng Kẻ Báng.
Tổng đốc Trịnh Quang Khanh là một cộng tác viên đắc lực nhất của vua
Minh Mạng trong việc bách hại đạo Công Giáo. Trong vòng ba năm, ông phá
hủy hơn 400 nhà thờ, tu viện và chủng viện. Ông cho phóng thích một tội nhân
phạm tội hình sự đang bị giam ở Nam Định, để anh ta đến làng Kẻ Báng dò
thám, lập công chuộc tội. Anh này tuy không trong đạo, nhưng quen biết nhiều,
nên ra vào gặp gỡ các giáo hữu dễ dàng. Khi biết chắc trong làng có ba linh mục,
anh liền đi tố giác với quan.
Ngày 30.05.1840, theo tin mật báo, quan Tổng đốc liền đem 1.000 quân đến
vây làng Kẻ Báng. Rồi ông cho phát loa kêu gọi dân ra đình điểm danh. Tất cả
đàn ông, thanh niên trên 15 tuổi đều bị trói lại và tập trung ở một chỗ, quân lính
canh gác cẩn thận. Họ bắt cứ phải ngồi vậy phơi nắng, phơi sương suốt hai ngày.
Chị em phụ nữ lo cơm nước tiếp tế cho lính và thân nhân. Đồng thời, quan sai
lính đi lục soát tất cả “hang cùng ngõ hẻm”. Ngày đầu tiên không tìm thấy linh
mục nào, ông nản lòng định rút quân, nhưng người tố giác cứ nhất quyết, lấy đầu
ra mà thề, nên ông lại cho tiếp tục lục soát.
Ngày thứ ba, quan ra lệnh phá cách vách dày trong làng thì quả thật bắt được
cha Nghi đang ẩn giữa hai lớp vách nhà bà Duyên. Quan cho gọi bà ra bước qua
Thánh Giá, nhưng may mắn quân lính nghe lộn ra bà Doãn, bà này ngoại giáo
nên sẵn sàng bước qua, nhờ đó bà Duyên thoát mạng. Khoảng giữa trưa thì lính
bắt thêm được cha Ngân đang ẩn ở nhà ông Thọ và cha bị bắt trói, điệu ra chỗ
cha Nghi ngoài đình.
Về cha Thịnh thì giả điếc nằm ngay võng nhà ông Chiền là cháu ông Cỏn,
quân lính đi ngang thấy cụ già nhà quê bệnh tật, nên chẳng nghi ngờ gì. Nếu có
hỏi thì cô Thanh, một nữ tu họ Kẻ Trình đi theo phục vụ cha khai là:
- Bố tôi đấy, ông bị bệnh nặng nên không ra điểm danh được.
Đến khi nghe hai cha Nghi và Ngân đã bị bắt, cha Thịnh không muốn im
lặng nữa. Nhân một cai đội hỏi cụ:
- Ông có phải là đạo trưởng không?
Cha Thịnh liền đáp:
- Phải, tôi đây.
Thế là cha Thịnh đồng số phận bị bắt với hai bạn cùng chí hướng. Lợi dụng
cơ hội này, quân lính ùa vào làng cướp tiến của, thóc lúa, trâu bò... Họ vừa đập
phá vừa reo hò chiến thắng vang dậy cả làng. Sau đó, quan cho đóng gông và áp
giải ba linh mục, ông Thọ, ông Cỏn và 20 tín hữu Kẻ Báng về nhà lao Nam Định.
Vững vàng tuyên tín...
Suốt một tháng đầu, ba cha, ngày mang gông xiềng, tối bị cùm chân, nhưng
chưa phải ra tòa. Đến đầu tháng bảy, quan gọi ra công đường, bắt bước qua Thập
Giá, các cha đều can đảm từ chối. Cha Thịnh lên tiếng:
- Tôi đã bằng này tuổi đầu mà còn sợ chết nữa sao? Tôi không thể làm theo
lời quan được.
Quan lại hỏi về tên và chỗ ở của các thừa sai, nhưng các cha đều chối không
biết. Quan liền truyền trói ba vị bắt quỳ giang nắng suốt ngày không cho uống
nước.
Ba ngày sau (06.07), Tổng đốc Trịnh Quang Khanh lại cho gọi ba cha và nói:
- Nếu các ông không đạp lên Thập Tự, các ông sẽ phải chết.
Cha Nghi trả lời:
- Thưa quan, nếu quan thương, chúng tôi nhờ; nếu không thương, chúng tôi
cũng xanh rì nấm mộ. Còn bước qua Thập Giá, chúng tôi không dám.
Quan liền cho đánh mỗi người 50 roi. Thấy không hiệu quả, ông cho đưa cha
già Thịnh đánh thêm 10 roi nữa, vì nghĩ tuổi già sức yếu, cha sẽ bị khuất phục.
Nhưng ông không ngờ cha Thịnh mạnh mẽ can đảm chịu đòn cách vui vẻ. Tức
giận, quan lại bắt ba vị ra phơi nắng một ngày nữa.
Hạnh phúc thiên thu.
Thấm thoát, ba cha đã ở trong ngục được năm tháng. Với nhiều trận đòn chí
tử, nhiều ngày giang nắng ngoài trời..., các vị vẫn không nản lòng, cứ một mực
tuyên xưng niềm tin vào Đấng chịu khổ nạn. Các quan thấy các ngài cương
quyết giữ vững lập trường, liền làm án gửi về kinh đô. Vua Minh Mạng phê
chuẩn và ra lệnh thi hành. Được tin ấy, ba cha hớn hở vui mừng, giải tội cho
nhau và chuẩn bị tâm hồn sốt sắng lãnh nhận triều thiên tử đạo.
Ngày 08.11.1840, cha Thịnh, cha Ngân, cha Nghi, ông Thọ, ông Cỏn bị đoàn
lính 500 người điệu ra pháp trường Bảy Mẫu. Đến nơi, tất cả các ngài quỳ xuống
cầu nguyện một lát, rồi ra hiệu đã sẵn sàng. Theo lệnh quan, lý hình chém rơi
đầu năm chiến sĩ đức tin, kết thúc cuộc đời dương thế và khai mở cuộc sống
vĩnh hằng trên Thiên Quốc. Thi thể hai cha Nghi và Ngân được đưa về Kẻ Báng.
Còn cha Thịnh được mai táng ở xứ Vũ Điện, sau dời về quê hương ngài là Kẻ Sét,
Hà Nội.
Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn ba linh mục Giuse Nguyễn Đình Nghi,
Phaolô Nguyễn Ngân và Martinô Tạ Đức Thịnh lên bậc Chân Phước ngày
27.05.1900.
Thánh Martinô THỌ, Viên thuế (1787 – 1840)
Tiểu sử thánh Martinô Thọ được ghi nhớ cách đặc biệt qua những lời trăn trối
với các con vào thăm trong tù. Di ngôn của ông đang trở thành bản mẫu cho
những người cha Kitô hữu trong giờ phút cuối của cuộc đời: vừa thực tế, vừa dạt
dào tình cảm, mà cũng đầy tin tưởng: “Các con thân mến, cha không còn làm gì
giúp chúng con ở thế gian này được nữa, cha chỉ còn lo chuẩn bị tâm hồn đón
nhận những thử thách cuối cùng. Ý Chúa đã muốn cha xa lìa các con mãi mãi,
nhưng các con còn có mẹ, hãy cố vâng lời mẹ. Các con lớn hãy nhớ quan tâm em
mình. Các con nhỏ phải biết kính trọng và vâng lời anh chị. Hãy yêu thương
nhau, siêng năng làm việc đỡ đần mẹ. Nhớ đọc kinh tối sáng và lần chuỗi Mân
Côi hằng ngày. Chúa trao cho mỗi người một Thánh Giá riêng, hãy vui vẻ vác
theo chân Chúa và kiên trung giữ đạo.”
Martinô Thọ sinh năm 1787 tại làng Kẻ Báng, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam
Định. Ông tên thật là Nho, còn Thọ là tên người con thứ chín. Tuy gia đình đông
con, nhưng ông đã khéo léo giáo dục chúng bằng đời sống gương mẫu của chính
mình.
Dân trong làng biết ông ngay thẳng, nên cử ông phụ trách việc thu thuế
đinh. Ông sống rất thanh liêm, không nhận hối lộ, không ăn chặn của ai, cũng
không quỵ lụy cấp trên, cứ theo lẽ công mà làm nên rất có uy tín. Ngoài ra, ông
Thọ còn thức khuya dậy sớm lao động như mọi người, vừa làm rụông, vừa ươm
tơ nuôi tằm. Ông thường khuyên các con: “Sống công bằng thôi chưa đủ, phải có
bác ái nữa, mà muốn thực thi bác ái phải có điều kiện.” Dành dụm được chút
nào, ông giúp đỡ người nghèo, hoặc góp phần vào việc chung, trong làng, trong
giáo xứ. Nhà ông ở luôn mở rộng cửa tiếp đón các linh mục đến giáo xứ làm
việc. Ông không sợ chết, lại còn muốn tỏ ra được chết vì đạo nữa.
Năm 1838, khi nghe tin hai ông Trùm Đích và ông Lý Mỹ bị xử trảm tại
pháp trường Bảy Mẫu, ông thu xếp công việc đến viếng xác và về nhà dặn dò các
con: “Các con yêu dấu, nếu Chúa cho cha theo chân hai ông ấy, các con hãy vui
lòng. Phần các con, nếu bị bắt, hãy can đảm giữ vững đức tin.”