Lời Chúa Hôm Nay Thứ Hai, 15/6/2026
Ngày kính Ngày 06 tháng 12

Chứng nhân đức tin

Thánh Giuse NGUYỄN DUY KHANG

Thánh Giuse NGUYỄN DUY KHANG, Thầy giảng dòng ba Đaminh (1832 – 1861) Một môn sinh trung thành. Thánh Giuse Nguyễn Duy Khang được các tín hữu Việt Nam tôn kính trong số bốn thánh tử đạo Hải Dương.

Thầy giảng dòng ba Đaminh 1832 - 1861 Xử trảm
Chức vụ Thầy giảng dòng ba Đaminh
Năm sinh - tử đạo 1832 - 1861
Ngày kính Ngày 06 tháng 12
Nơi tử đạo Năm Mẫu
Cách tử đạo Xử trảm

Tiểu sử

Thánh Giuse NGUYỄN DUY KHANG, Thầy giảng dòng ba Đaminh
(1832 – 1861)
Một môn sinh trung thành.
Thánh Giuse Nguyễn Duy Khang được các tín hữu Việt Nam tôn kính trong
số bốn thánh tử đạo Hải Dương. Tuy thánh nhân tử đạo sau hơn một tháng,
nhưng vẫn được chung vinh dự với linh mục Almate Bình, hai giám mục
Valentinô Vinh và Hermosilla Liêm, vì đã cùng chung lao khổ với ba vị huynh
trưởng đó trong dòng Đaminh.
Là người trợ tá của Giám mục Hermosilla Liêm, thầy Giuse Khang đã theo
sát người cha chung của địa phận Đông Đàng Ngoài trong những ngày lưu lạc.
Rồi khi quân lính vây bắt Đức cha thì với nhiệt tâm của thánh Phêrô tông đồ xưa
trong vường Cây Dầu, thầy định dùng võ lực để chống cự. Nhưng sau cùng, thầy
đã nghe lời của vị mà mình muốn bảo vệ. Thầy chấp nhận bị bắt để làm chứng
cho điều cao thượng hơn: Làm chứng cho tình thương, cho lòng nhân ái thứ tha
của Tin Mừng.
Một tu sĩ đạo đức.
Giuse Nguyễn Duy Khang chào đời năm 1832, tại Cao Mại, xã Trà Vi, huyện
Vũ Tiên, phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Cha mẹ cậu là những giáo hữu đạo
đức, hướng dẫn các con vào đời sống đạo ngay từ nhỏ. Nhưng cha cậu sớm qua

đời, cậu được mẹ săn sóc tận tình. Bà lo liệu cho cậu được học hành, gợi cho cậu
ý muốn hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa và gởi cậu vào nhà Đức Chúa Trời
giúp việc cho cha Matthêu Năng dòng Đaminh.
Sau mười năm sống với linh mục lão thành thánh thiện này, cậu Giuse
Khang được cha gửi vào chủng viện Kẻ Mốt để học tiếng Latinh, chuẩn bị cho sứ
vụ linh mục tương lai. Giai đoạn này thầy Giuse Khang xin gia nhập dòng
Đaminh, và được anh em tín nhiệm vào làm trưởng tràng điều hành mọi công
việc trong nhà như lao động, nấu ăn, liên lạc với các bề trên. Mặc dù bận rộn,
thầy Khang vẫn nêu gương sáng cho anh em trong việc học hành và kỷ luật.
Những ai đã tiếp xúc với thầy đều nói thầy đạo đức, có tính cương trực, nhưng
lại luôn luôn hòa nhã với hết thảy mọi người.
Khi đó, Đức cha Hermosilla Liêm cũng ở Kẻ Mốt đã tín nhiệm thầy cách đặc
biệt và chọn thầy làm người phụ tá riêng. Thầy Khang vui vẻ phục vụ Đức cha
cach tận tình: từ việc dọn bàn thờ, sắp xếp các hồ sơ, sao chép các hồ sơ luân lưu,
cho đến những công tác cơm nước, liên lạc. Có lần thầy còn đào hang trú ẩn cho
hai cha con nữa.
Mẫu gương can đảm.
Giáo Hội Việt Nam lúc ấy đang trong tình trạng bị bách hại khốc liệt, dưới
thời vua Tự Đức. Để tiêu diệt hết đạo Gia Tô trong cả nước, nhà vua ban hành
chiếu chỉ Phân sáp ngày 05.08.1861. Theo chiếu chỉ đó, mọi tín hữu Gia Tô già
trẻ lớn nhỏ, nam nữ đều bị phân tán vào các làng ngoại giáo. Các tín hữu bị khắc
chữ trên má, gia đình bị phân chia, vợ một nơi, chồng một nẻo, con cái mỗi đứa
mỗi miền. Các thánh đường, nhà chung, tài sản của giáo hữu bị tịch thu, bị chia
chác hay phá hủy.
Trong bối cảnh đó, ngày 08.09, Đức cha Hermosilla Liêm vô cùng đau đớn
khi phải quyết định giải tán chủng viện Kẻ Mốt. Linh mục Khoa, đại diện ngài
nói với các chủng sinh: “Anh em khòi chào Đức cha, kẻo ngài không cầm được

nước mắt”. Riêng thầy Khang nhất quyết xin và được chọn để đi theo Đức cha
cho tới cùng. Khi giã từ các bạn, thầy nói nửa đùa nửa thật: “Tôi nhất định theo
Đức cha, các quan có bắt ngài, ắt sẽ chẳng tha tôi. Đức cha chết vì đạo, tôi cũng
chết theo. Mất đầu còn chân sợ gì.” Từ đêm đó, hai cha con bắt đầu sống lưu lạc.
Tương lai tuy mù mịt, nhưng thầy Khang vẫn vui tươi nhờ lòng tin tưởng phó
thác và tâm tình hiến dâng mạng sống nếu Chúa muốn.
Ba tuần lễ đầu, thầy Khang cùng với Đức cha sống trong hang trú ẩn ở Thọ
Ninh. Nhưng quan quân đã phát hiện nơi ẩn đó, nên hai cha con phải bỏ đất liền,
xuống một thuyền đánh cá. Thầy Khang chèo thuyền qua thị xã Hải Dương đến
tá túc trên thuyền của một giáo hữu tên Bính. Chính nơi đây đã thành “Tòa
Giám Mục lưu động” của vị chủ chăn. Được vài ngày, hai vị tình cờ gặp Đức cha
Valentinô Vinh và linh mục Almatô Bình đi thuyền từ Kẻ Nê xuống. Thật là
cuộc gặp gỡ vô cùng cảm động và vui mừng của bốn thánh tử đạo Hải Dương.
Các vị tạ ơn Chúa vì cơ may đặc biệt này, trao đổi tin tức và cùng nhau cầu
nguyện cho Giáo Hội. Đến sáng, các cha chia tay mỗi thuyền đi một ngả.
Một hôm gia đình Trương Bính xảy ra cuộc cãi lộn. Người con trai tức giận
với cha mẹ nên tố cáo ông bà chứa chấp đạo trưởng. Thế là đội Bảng liền đem
gia nhân đến bắt Đức cha. Thấy họ tới nơi, thầy Khang liền nhổ cây sào chống
thuyền và chạy đến đứng chắn trước mặt họ như muốn ngầm bảo: phải bước qua
xác tôi, rồi muốn bắt ai thì bắt. Nhưng vị Giám mục khả kính và nhân ái đã đến
nắm lấy vai thầy, ngài nói: “Đừng làm gì hại họ, hãy phó mặc cho ý Chúa”. Thầy
Khang ngỡ ngàng quay lại nhìn người cha già và chợt hiểu ra ý ngài, thầy chỉ nói
được một lời: “Thưa vâng”, rồi bỏ sào tre xuống đưa tay cho lính trói. Lính giải
hai vị vào thành Hải Dương và giam mỗi vị một nơi.
Vị tử đạo Hải Dương.
Một tháng rưỡi trong tù, thầy Khang được sống chung với một số giáo hữu.
Thầy liền tổ chức cho cả phòng giam đọc kinh chung mỗi ngày ba lần, và mỗi tối

làm việc thống hối đền tội để chuẩn bị đón nhận phúc tử đạo. Trong thời gian
này, thầy bị đưa ra tòa tra tấn ba lần, bị đánh đòn khắp hai bên mông. Lần nào
thầy cũng can đảm chịu đựng, không hề tiết lộ bất cứ chi tiết nào về hàng giáo sĩ,
không chịu bỏ đạo như các quan yêu cầu. Sau mỗi trận đòn, các giáo hữu trong
ngục đều nấu nước rửa và xoa bóp cho thầy dịu bớt cơn đau.
Đặc biệt ở trong tù, thầy Khang vẫn tiếp tục viết thư cho các bạn học đang
lưu lạc ở làng Hảo Hội. Một lá thư thầy viết: “
Các quan mới tra tấn tôi một kỳ để
hỏi Đức cha đã ở những đâu, song tôi chẳng trả lời, trái lại vui lòng chịu đòn. Xin anh
em cầu nguyện cho tôi.”
Trong lá thư khác thầy viết: “
Anh em cho tôi một cái quần, vì quần tôi cũ, phải
đòn nhiều đã rách nát. Cũng xin cho tôi một cái chăn để khi tôi chết, có cái mà liệm
xác đem chôn”
.
Ngày 06.12.1861, thầy Giuse Khang được nghe bản án trảm quyết ở kinh đô
gửi về, thầy vui vẻ theo lệnh ra pháp trường Năm Mẫu, nơi đã thấm máu người
cha kính yêu của thầy ngày 01.11 trước đó. Sau khi bị chém đầu, dân chúng địa
phương an táng thi thể thầy ở ngoài ruộng. Năm 1867, theo lệnh của Đức cha
Hy, thầy cai Hinh, anh ruột của vị tử đạo đã dời hài cốt em của mình về nhà
nguyện Kẻ Mốt. Ngày nay thủ cấp của thánh nhân được lưu giữ tại Đền Thánh
Hải Dương, còn hài cốt thì vẫn để ở Kẻ Mốt.
Ngày 20.05.1906, Đức Thánh Cha Piô X suy tôn thầy Giuse Nguyễn Duy
Khang lên bậc Chân Phước.