Lời Chúa Hôm Nay Thứ Hai, 15/6/2026
Ngày kính Ngày 02 tháng 06

Chứng nhân đức tin

Thánh Đaminh NINH

Thánh Đaminh NINH, Nông dân (1841 – 1862) Đức tin mạnh hơn sự chết. Giác quan khiếp sợ trước những cái nguy hiểm, những cái sẽ đem đến đau thương và chết chóc.

Nông dân 1841 - 1862
Chức vụ Nông dân
Năm sinh - tử đạo 1841 - 1862
Ngày kính Ngày 02 tháng 06
Nơi tử đạo An Triêm

Tiểu sử

Thánh Đaminh NINH, Nông dân (1841 – 1862)
Đức tin mạnh hơn sự chết.
Giác quan khiếp sợ trước những cái nguy hiểm, những cái sẽ đem đến đau
thương và chết chóc. Nhưng với đức tin mạnh mẽ và sống động, giác quan
không còn e sợ gì cả. Nó biết trước tất cả những gì sẽ xảy ra đến đều do ý Chúa,

và những điều Chúa muốn chỉ sinh ích mà thôi. Như vậy tất cả những gì sẽ đến
buồn hay vui, sức khỏe hay bệnh tật, sống hay chết đều được nó vui nhận trước
và dĩ nhiên không còn biết sợ gì.”
Tư tưởng trên đây đã được cha Charles de Foucault, vị khai sáng dòng Tiểu
Đệ trình bày, diễn tả thật chính xác về các vị thánh Tử Đạo Việt Nam. Các vị
biết trước những gian nan và đau khổ sẽ phải chịu, nhưng tin vào Thiên Chúa,
các ngài không chút nhát sợ. Sự hiên ngang can trường của các ngài trước bạo
lực trần gian thật đáng được muôn đời ca tụng. Thánh Đaminh Ninh là một
trong số các vị oai hùng đó.
Năm 1841, làng Trung Linh, tỉnh Nam Định thuộc địa phận Trung (nay là
địa phận Bùi Chu) đón nhận cậu bé Đaminh Ninh chào đời. Làng Trung Linh
cũng là xứ Trung Linh, là một làng thuần Công Giáo. Trong giai đoạn đầu công
cuộc truyền giáo tại miền Bắc Việt Nam. Trung Linh là nơi đặt tòa Giám mục và
có trường đào tạo chủng sinh.
Tuy là một nông dân chất phác, cần cù, anh Ninh vẫn cố gắng học thêm chữ
Nôm, hy vọng tương lai ngày mai tươi sáng hơn. Anh Ninh được dân làng khen
là một Kitô hữu tốt lành, đạo đức. Duy có điều đáng buồn đối với anh, đó là cha
mẹ đã ép anh phải kết hôn với một thiếu nữ trong làng. Vì không muốn làm
buồn lòng cha mẹ, anh đành miễn cưỡng chấp nhận cuộc sống hôn nhân này.
Nhưng sau ngày cưới, anh vẫn sống như người độc thân, chứ không chung sống
với người thiếu nữ đó. Tuy nhiên anh vẫn cư xử hòa nhã với nàng. Và sau anh
nhận thấy mình có phần lỗi, nên anh đã cố gắng đền bù bằng cuộc sống thánh
thiện, nhất là can đảm chấp nhận mọi đau khổ cực hình vì đức tin và vì lòng mến
Chúa.
Chiếu chỉ Phân sáp ban hành ngày 05.08.1861 của vua Tự Đức được áp dụng
triệt để tại Nam Định. Nếu nhiều nơi trước khi bị phân sáp, giáo hữu còn được

bán nhà lấy tiền chi tiêu thì ở đây họ bi bắt, bị trói từng năm người một, và chỉ
được mang theo mấy nắm cơm đủ ăn trong hai ngày ngắn ngủi.
Thanh niên can trường.
Năm 1862, anh Ninh vừa được 21 tuổi. Anh bị bắt cùng với một số giáo hữu
khác, và bị giam nhiều trại tù với những lời dụ dỗ, đe dọa, tra tấn để làm cho các
tôi tớ Thiên Chúa khiếp sợ mà chối bỏ đức tin. Quan đã dùng nhiều lời hứa hẹn
và đe dọa bắt anh Ninh phải chà đạp Thánh Giá nhưng anh can đảm trả lời:
“Nếu làm con cái không được phép sỉ nhục cha mẹ mình thì làm sao người
Kitô hữu lại được phép chà đạp hình ảnh của Đấng tạo thành trời đất? Xin quan
cứ thi hành điều quan muốn, còn tôi không bao giờ xúc phạm Thánh Giá Chúa
Giêsu đâu.”
Trong án phong thánh cho anh Đaminh Ninh, bà Rosa Hun làm chứng rằng:
“Tôi thấy anh bị nhốt tù tại Đông Vi, tuy mang gông cùm xiềng xích nặng nề,
anh vẫn vui vẻ tươi cười.”
Trước lòng can đảm, khẳng khái của anh Ninh, Tổng đốc Nguyễn Đình Tân
đã kết án trảm quyết. Và bản án được thi hành ngày 02.06.1862 tại pháp trường
An Triêm, tỉnh Nam Định.
Ngày 29.04.1951 tại giáo đô Vatican, trong Vương Cung Thánh đường
Phêrô, anh Đaminh Ninh, người thanh niên nông dân nghèo, nhưng cũng là Kitô
hữu can trường đã được Đức Thánh Cha Pio XII suy tôn lên bậc Chân Phước.