Lời Chúa Hôm Nay Thứ Hai, 15/6/2026
Ngày kính Ngày 16 tháng 06

Chứng nhân đức tin

Thánh Anrê TƯỜNG

Thánh Anrê TƯỜNG, Nông gia (1812 – 1862) Anrê TƯỜNG, Nông gia (1812 – 1862), Vinh Sơn TƯƠNG, Chánh tổng (1814 – 1862), Đaminh NGUYỄN ĐỨC MẠO, Nông gia (1818 – 1862), Đaminh NHI, Nông gia (1822 – 1862) và Đaminh NGUYÊN,...

Nông gia 1812 - 1862 Xử trảm
Chức vụ Nông gia
Năm sinh - tử đạo 1812 - 1862
Ngày kính Ngày 16 tháng 06
Cách tử đạo Xử trảm

Tiểu sử

Thánh Anrê TƯỜNG, Nông gia (1812 – 1862)
Anrê TƯỜNG, Nông gia (1812 – 1862), Vinh Sơn TƯƠNG, Chánh tổng
(1814 – 1862), Đaminh NGUYỄN ĐỨC MẠO, Nông gia (1818 – 1862),

Đaminh NHI, Nông gia (1822 – 1862) và Đaminh NGUYÊN, Chánh
trương (1800 – 1862)
Niềm tin được chứng giám.
Cuộc đời năm vị tử đạo Anrê Tường, Vinh Sơn Tương, Đaminh Mạo,
Đaminh Nhi và Đaminh Nguyên tưởng như đã được trình bày cụ thể trong thư
gởi giáo đoàn Do Thái:
“Có những người vì đức tin bị căng nọc, bị đanh đòn, họ đã từ khước giải
thoát ngõ hầu được sự sống hoàn hào hơn. Có những người chịu thử thách, chịu
sỉ nhục, chịu đòn vọt, họ còn bị xiềng xích và tù ngục. Họ bị ném đá, bị cưa xẻ, bị
thiêu đốt, bị hiếp đáp, bị hành hạ... Hết thảy những người đó đã được Thiên
Chúa chứng giám nhờ đức tin.” (Dt 11, 35-37. 39)
Chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi chiếu chỉ Phân sáp, năm giáo hữu đồng hương
này đã đồng lao cộng khổ, để cuối cùng đồng vinh quang trên Nước Trời. Thiên
Chúa đã chứng giám cho niềm tin của họ.
Số phận gắn bó với nhau.
Dưới thời vua Tự Đức, xứ Lục Thủy, tỉnh Nam Định, địa phận Trung Đàng
Ngoài, có 13 họ đạo nằm trong 9 làng xã. Do đó, làng Ngọc Cục bao gồm 2 họ
đạo Ngọc Cục (bổn mạng lễ Truyền tin) và họ Phú Yên (bổn mạng thánh Vinh
Sơn).
Các ông Anrê Tường, Vinh Sơn Tương và Đaminh Nguyễn Đức Mạo thuộc
họ Phú Yên. Anrê Tường sinh năm 1812 và Vinh Sơn Tương sinh năm 1814 là
hai anh em ruột. Thân phụ là Đaminh Tiên làm Trùm họ, và thân mẫu là bà
Maria Gương. Ông Tương tuy thua anh hai tuổi, nhưng đã từng giữ chức Chánh
tổng. Còn Đaminh Nguyễn Đức Mạo, con ông Đaminh Giỏi làm xã trưởng và bà
Maria Nhiên. Khi bị bắt ông được 44 tuổi và làm Hương quản lo an ninh trật tự
trong làng.

Hai ông Đaminh Nguyên và Đaminh Nhi thuộc họ Ngọc Cục. Đaminh
Nguyên sinh năm 1800, con ông Đaminh Duệ làm Xã trưởng. Khi bị bắt ông
đang làm Chánh trương xứ Lục Thủy. Con trai ông là Đaminh Trình (35 tuổi)
cũng bị bắt và tử đạo sau ông một ngày. Còn Đaminh Nhi, người trẻ nhất trong
nhóm, sinh năm 1822, con ông Đaminh Vương và bà Catarina Vân.
Năm ông đều đã lập gia đình, đều là những tín hữu nông gia tốt bụng, khá
giả, nên được dân làng rất kính nể và tôn trọng. Riêng Đaminh Nguyên nhờ có
nghề thuốc nên có nhiều cơ hội thực thi bác ái ngay cả với những người anh em
ngoại giáo trong vùng. Không rõ trước khi bị bắt, các ông có thân thiết với nhau
không, nhưng với một số điểm tương đồng trên, các ông đã là những đối tượng
đầu tiên được lưu ý khi chiếu chỉ Phân sáp được áp dụng tại làng Ngọc Cục.
Chiếu chỉ Phân sáp của vua Tự Đức ban hành ngày 05.08.1861 gồm 5 nội
dung chính: Phân tán các làng Công Giáo; sáp nhập họ vào các làng ngoại giáo;
tịch thu tài sản ruộng nương; thích tự hai bên má những người theo đạo; rồi giao
cho lương dân quản thúc. Trong bối cảnh đó, 5 ông đã bị bắt ngày 14.09.1861.
Quan phủ Xuân Trường ra lệnh ép các ông phải chà đạp Thánh Giá. Nhưng các
môn đệ Chúa Kitô đã khẳng khái biểu lộ niềm tin của mình, cương quyết khước
từ hành vi chối đạo, xúc phạm đến Chúa. Thế là quan giận dữ đày các ông sang
làng Bạch Cốc, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Tù đày và lời chứng.
Tiếp theo là bảy tháng rưỡi bị giam cầm, cổ mang gông, chân tay xiềng xích,
bị đánh đòn nhiều lần dã man, nhưng 5 vị anh hùng vẫn kiên trung với đạo
Thánh Chúa. Cũng theo chiếu chỉ Phân sáp này, quân lính dùng dùi sắt nung đỏ
khắc chữ trên mặt các chứng nhân của Chúa, một bên má là chữ “Tả đạo”, bên
kia là tên làng xã. Nói sao cho xiết nỗi tủi nhục đau đớn của các ông. Đau vì
nhức nhối khủng khiếp và vết phỏng lâu ngày trên mặt mới khỏi, nhục vì phải
trình bày cho mọi người thấy dấu hiệu chế giễu khinh mạn niềm tin đạo giáo.

Nhưng tất cả các ông nhẫn nại chịu đựng, miễn tấm lòng vẫn trung thành với
đức tin chân chính.
Để kín múc ơn trợ lực của Thiên Chúa, hằng ngày các ông quây quần bên
nhau cầu nguyện, đọc kinh Mân Côi, cùng nhau dâng lên Chúa lời tuyên xưng
tuyệt đối của mình vào bàn tay quan phòng, và phó dâng đời mình cho thánh ý
Ngài. Có thể nói, chính nhờ những lời nguyện sốt sắng phát xuất từ đáy con tim
đó, các ông đã tìm được nghị lực và can đảm lướt thắng mọi gian nan thử thách.
Ngoài ra, các ông còn giúp nhau sám hối những lỗi lầm, và tự nguyện hãm mình
bằng chay tịnh mỗi tuần 3 ngày để chuẩn bị đón chờ hồng phúc tử đạo.
Trong bức thư đề ngày 07.08.1862, linh mục Estévez Nam đã trình bày cơn
sốt bắt đạo tại Nam Định như sau:

Trong tỉnh Nam Định, người Công Giáo bị đuổi khỏi nhà, quân lính trói từng
năm người một, họ chỉ được đem theo mấy nắm gạo đủ ăn chừng hai ngày... Có 300
giáo hữu đang bị giam, Tổng đốc Nguyễn Đình Tân ra lệnh cấm tiếp tế lương thực và
chỉ mấy ngày sau, 240 người gục chết, những người còn lại hấp hối chờ chết... Ngày
18.05.1862, ông ra lệnh chém 21 người, ngày 22 chém 43 người, ngày 26 chém 67
người... Ngày 30.05 ông truyền trói 112 người buông thả sông, rồi hôm sau đến lượt
112 người khác...


Việc làm của Tổng đốc được các quan phủ huyện noi theo. Người Công Giáo phải
chết hàng trăm, kẻ bị chém, người bị thiêu sinh trong ngục, hoặc có ai tháo chạy ra
ngoài được, cũng bị lý hình cầm gươm dí họ vào lửa cho đến chết. Có lần 150 người bị
xử một lúc, lý hình vì không thành thạo, chém đi chém lại chỉ giết được 20 người, số
còn lại bị đẩy xuống sông. Nhưng sóng lại nhỏ, một số người sống sót lội vào bờ, quân
lính tóm bắt, rồi cứ hai người một, buộc vào nhau ném xuống giếng sâu chết cả.

Riêng với 5 chiến sĩ đức tin Anrê Tường, Vinh Sơn Tương, Đaminh Mạo,
Đaminh Nguyên và Đaminh Nhi, quan vẫn còn nhân nhượng. Ngày 15.06.1862,
một lần nữa, quan yêu cầu các ông chà đạp Thánh Giá, các ông lại từ chối. Quan