Chứng nhân đức tin
Thánh Giuse Diaz SANJURJO AN
Thánh Đaminh ĐINH ĐẠT, Quân nhân (1803 – 1839) và Thánh Giuse Diaz SANJURJO AN, Giám mục dòng Đaminh (1818 – 1857) Lá thư tâm sự. Qua những lời lẽ được trích từ lá thư viết trong tù của thánh Giám mục...
Tiểu sử
Thánh Đaminh ĐINH ĐẠT, Quân nhân (1803 – 1839) và Thánh Giuse
Diaz SANJURJO AN, Giám mục dòng Đaminh (1818 – 1857)
Lá thư tâm sự.
Qua những lời lẽ được trích từ lá thư viết trong tù của thánh Giám mục
Giuse An, chúng ta có thể hiểu được phần nào tâm hồn của ngài. Với mẩu than
và mảnh giấy xé trong sách, ngài đã nắn nót từng chữ viết lên lời tuyên xưng
niềm tin, bày tỏ ước nguyện dâng hiến đời mình hòa với hy tế của Đức Kitô và
biểu lộ lòng xác tín vào Quê Trời vĩnh cửu, nơi ngài mong tái ngộ với mọi người
thân yêu:
“
Tù nhân trong Chúa gửi lời tạm biệt Đức cha và các cha cho tới ngày gặp nhau
trên Trời. Xin tất cả anh em tha thứ cho những điều lầm lỗi và gương xấu mà tôi đã
làm... Gông xiềng tôi đang mang được coi là những báu vật Chúa Giêsu gởi cho tôi.
Tôi vui mừng lắm và chỉ ước ao đổ máu vì Chúa, để máu tôi hòa với Máu Cực Thánh
Chúa Giêsu rửa linh hồn tôi được sạch mọi tội lỗi. Xin anh em cầu cho tôi vững đến
cùng...
Viết tại ngục Nam Định, ngày 28.05.1857, Fray José Maria.
”
Ước vọng và nỗ lực.
Giuse Diaz Sanjurjo chào đời ngày 26.10.1818 tại Santa Eulalia de Suegos,
tỉnh Lugo nước Tây Ban Nha. Là con cả của gia đình 5 anh em, trong đó người
em út là nữ tu Antonia. Lớn lên cậu theo học tại chủng viện Lugo. Vì nội chiến,
cậu bị gián đoạn 3 năm học phải trở về quê. Sau đó, vào đại học Compostella.
Trong giai đoạn này, Giuse Sanjurjo được biết và cảm mến sinh hoạt truyền giáo
của dòng Đaminh tại Viễn Đông. Vào dịp thuận tiện, cậu giã từ cha mẹ bạn bè và
xin vào tu viện Santo Domingo Ocãna của tỉnh dòng Đaminh Rất Thánh Mân
Côi, đặc trách truyền giáo ở Viễn Đông.
Ngày 23.09.1842 cùng với 7 thỉnh sinh khác, cậu được lãnh tu phục dòng
Thuyết giáo. Năm sau (24.09.1843), thầy Sanjurjo khấn dòng trong tay Bề trên
Orge. Vì đời sống đạo đức, nhiều khả năng và ước vọng loan báo Tin Mừng của
thầy đã được khẳng định ngay từ khi đến Ocãna, nên sau đó nửa năm, thầy được
gửi đến Cadiz chuẩn bị đến miền truyền giáo. Tại Cadiz, thầy thụ phong linh
mục ngày 23.03.1844 và cùng với 5 tu sĩ bạn đến Manila (Phi Luật Tân) ngày
14.09 năm đó. Sáu tháng sau, vị linh mục trẻ lại lên đường qua Macao, rồi từ đó
đến địa phận Đông Đàng Ngoài ngày 12.09.1845 với tên Việt Nam là An. Sau
thời gian học tiếng Việt, cha được đề cử coi sóc chủng viện tại Nam Am.
Cuộc bách hại 1848 của vua Tự Đức đã gây thiệt hại nặng nề cho chủng viện.
Cha An và cha Alcazar Hy phải gấp rút giải tán các chủng sinh, cho chôn giấu
các đồ thờ phượng, và đau buồn nhìn chủng viện bị tàn phá. Trong thư gửi cho
bạn ở quê nhà, cha viết: “
Chúng tôi chẳng còn nhà, chẳng còn sách vở quần áo, chẳng
còn gì nữa...nhưng chúng tôi vẫn an tâm vì nhờ lời Thầy Chí Thánh: Con Người
không có chỗ gối đầu...
”
Sau đó, cha An phải lánh nạn đến Ngọc Cục, qua Ninh Cường vài tuần, rồi
sang miền Cao Xá. Vì nhiệt tâm với tương lai của địa phận, cha mở lại chủng
viện cho các chủng sinh cũ ngay tại Cao Xá. Thời gian này, cha biên soạn cuốn
Văn Phạm Latinh bằng tiếng Việt.
Vị Giám mục phó hăng say.
Năm 1848, vì số giáo hữu trong địa phận gia tăng, Đức cha Hermosilla Liêm
xin Tòa Thánh chia khu vực dòng Đaminh thành 2 địa phận. Qua văn thư ngày
05.09, Đức Piô IX thiết lập địa phận Trung tách khỏi địa phận Đông Đàng
Ngoài. Địa phận Trung gồm 2 địa phận hiện nay là Bùi Chu, Thái Bình với
khoảng 140.000 giáo hữu và 624 giáo xứ.
Linh mục Marti Gia khi nghe tin được chọn làm Giám mục địa phận mới thì
tỏ ra lo lắng và đến hỏi ý kiến cha Sajurjo An đang ở Trung Lễ. Trong bầu khí
trao đổi thân mật, cha An phân tích các mặt của nhiệm vụ Giám mục với những
khó khăn trong thời cấm đạo. Rồi cha đề cập đến các nhu cầu của cộng đoàn dân
Chúa, đến các vai trò của các phẩm trật. Sau cùng cha đã thuyết phục cha Marti
Gia lãnh nhận vinh dự, cũng là gánh nặng chủ chăn địa phận mới.
Nhưng một điều cha An không ngờ: trong sắc lệnh bổ nhiệm Đức cha Marti
Gia, Tòa Thánh đã cho vị tân Giám mục quyền chọn vị Giám mục phó. Đức cha
Gia liền chọn Giám mục phó là cha An, người đã thuyết phục mình nhận chức.
Ngày 05.04.1849, cha Sanjurjo An được thụ phong Giám mục hiệu tòa Platea
cùng với cha Alcazar Hy, người được chọn làm Giám mục phó cho Đức cha
Hermosilla Liêm.
Sau đó, vị tân Giám mục lại trở về Cao Xá tiếp tục coi sóc chủng viện. Trong
thư gửi cho gia đình, Đức cha viết: “
Ở đây thì chức vụ cao chỉ thêm công việc. Con
thường phải đi bộ, có khi phải đi chân không, nhiều lần phải lội bùn đến đầu gối, để
trốn tránh những người tìm bắt.
”
Tháng 03.1850, Đức cha An trao chủng viện cho cha Sampedro Xuyên, rồi đi
kinh lý toàn tỉnh Hưng Yên. Nhưng cuộc kinh lý phải bỏ dở vì quan quân truy
lùng quá gắt gao. Hai linh mục Việt Nam cùng đi với Đức cha bị bắt. Trở về Cao
Xá, Đức cha bị sốt rét nặng một thời gian.
Vị mục tử tận tình.
Năm 1852, Đức cha Marti Gia lâm bệnh nặng phải rời bỏ xứ truyền giáo và
qua đời ngày 26.04 tại Hương Cảng trong sự luyến tiếc của các giáo hữu Việt
Nam. Kể từ đó, Đức cha An phải gánh vác toàn địa phận Trung. Ngài về tòa
Giám mục ở Bùi Chu và trực tiếp điều hành việc truyền giáo. Số tân tòng gia
tăng mau lẹ. Số rửa tội năm 1852 của địa phận ghi thêm tên của 28.355 người.
Đức cha viết: “
Đó quả là phần thưởng đầy khích lệ để các nhà truyền giáo tiếp tục
những trách vụ tông đồ, bất chấp mọi âm mưu của thần dữ, không nản lòng trước
những cơ cực thiếu thốn, trước nguy hiểm vây quanh và những nghịch cảnh có thể xảy
đến...
”
Năm 1854, Đức cha Sanjurjo An mở lễ trọng thể kính thánh tổ phụ Đaminh
tại Lục Thủy, có đông đủ các cha dòng triều, các chủng sinh, nữ tu và trên
20.000 giáo hữu khắp nơi về tham dự. Sau lễ, Đức cha họp hội đồng địa phận để
thảo luận về nhiều vấn đề có ích lợi chung. Ngài còn tổ chức thi kinh bổn giữa
các giáo xứ và các buổi tranh luận về tôn giáo. Có lần ngài viết một số vấn nạn
về giáo lý bằng chữ Hán phát cho các thầy Nho. Đến ngày hẹn, khoảng 30 thầy,
đa số ngoài Công Giáo đến dự cuộc. Đức cha khai mạc và nói vài lời gợi ý, sau đó
để các thầy tự do phát biểu. Mọi thắc mắc đều được Đức cha giải đáp thỏa đáng,
khiến các thầy và dân chúng trong huyện đó phải khâm phục.
Năm 1855, 3 cha dòng mới từ Macao tới Việt Nam đem theo sắc lệnh đặt
Đức cha An làm giám mục đại diện Tông tòa địa phận Trung, và trao quyền
chọn phụ tá. Đức cha đã chọn cha Sampedro Xuyên và tổ chức lễ tấn phong
Giám mục ngày 16.09 tại thánh đường Bùi Chu, với sự tham dự của 49 linh mục
và đông đảo giáo dân, đến độ khu vực Bùi Chu không đủ nhà để trọ. Số trẻ ngoại
đạo được rửa tội trong năm này là 35.349 em.
Giông tố bách hại.
Từ năm 1854, tại miền Bắc có “giặc châu chấu” của Lê Duy Cự và Cao Bá
Quát. Nhóm này hứa hẹn và cổ động giới Công Giáo tham gia nổi loạn, nhưng
rất ít người theo vì Đức cha đã lên tiếng cấm chống lại chính quyền. Nhờ đó, các
quan địa phương nới tay trong việc thi hành sắc lệnh của nhà vua. Tổng đốc
Nguyễn Đình Tân biết rất chính xác trụ sở Tòa Giam mục, nhưng không muốn
bắt. Ông còn hứa hẹn nếu bất đắc dĩ phải đem quân truy nã thì ông sẽ cho báo
trước.
Tháng 05.1857, đúng lúc có viên quan Thượng thư từ kinh đô ra Nam Định,
thì Chánh Mẹo ở làng Thoại Miêu lên tỉnh tố cáo rằng: “Có đạo trưởng Tây tên
An ở Bùi Chu”. Vì có quan trên, quan Tổng đốc buộc lòng phải ra lệnh truy bắt,
nhưng cũng báo cho Đức cha, tiếc rằng tin đến nơi thì Đức cha đã bị bắt. Khi
quân lính đến bao vây, Đức cha luống cuống chạy ẩn đến 4 chỗ và cuối cùng,
ngài ngồi giữa một bụi tre khá kín đáo. Nhưng đúng lúc ngài ngó đầu xem lính
đi chưa, thì bị phát hiện và bị bắt. Quân lính tước đoạt Thánh Giá và nhẫn Giám
mục. Sau đó, trói ngài dẫn đi. Rồi họ kéo nhau vào nhà chung để cướp của và
thiêu hủy những gì họ không đem đi được.
Sau một đêm bị giam tại phủ Xuân Trường, vị anh hùng đức tin được quan
quân giải về Nam Định. Tại đây, Tổng đốc Nguyễn Đình Tân tỏ ra tiếc khi thấy
Đức cha bị bắt, nhưng vì sợ quan Thượng thư nên phải xử với ngài như tù phạm.
Đức cha bị biệt giam hai tháng, chỉ có 3 lần một linh mục địa phận vào ban bí
tích, và một lần người của Đức cha Retord Liêu vào thăm. Tuy bị xiềng xích
gông cùm, Đức cha An luôn bình tĩnh vui vẻ đón chờ phúc tử đạo. Nhiều lần các
quan bắt ngài đạp lên Thánh Giá, nhưng ngài cương quyết từ chối.
Nhát gươm di chúc.
Ngày 20.07.1857, có án tử hình từ kinh đô ra, truyền chém đầu “Tây dương
đạo trưởng tên An”. Trên đường ra pháp trường Nam Định, Đức cha An, tay cầm
sách nguyện, vừa đi vừa suy niệm, vẻ mặt bình thản. Đến nơi xử, quân lính vây
quanh ngài 3 vòng. Vòng trong cầm gươm, vòng giữa cầm giáo, vòng ngoài cầm
cờ, cưỡi ngựa, cỡi voi. Đức cha An xin hoãn một lát, rồi lớn tiếng nói đôi lời với
những người có mặt, sau đó nói với viên chỉ huy: “Tôi xin gửi quan 30 đồng tiền
để xin một ân huệ: xin đừng chém tôi 1 nhát, nhưng là 3 nhát. Nhát thứ nhất tôi
tạ ơn Chúa đã dựng nên tôi, và đưa tôi tới đất Việt Nam giảng đạo. Nhát thứ hai
để nhớ ơn cha mẹ sinh thành ra tôi, còn nhát thứ ba như lời di chúc cho các bổn
đạo của tôi, để họ bền chí cho đức tin, theo gương vị chủ chăn của mình. Và như
thế họ đáng lãnh phần hạnh phúc cùng các thánh trên Trời.”
Đức cha vừa dứt lời, quân lính trói ngài vào cây cọc hình Thập Tự. Dân
chúng òa lên khóc. Lý hình chém Đức cha 3 nhát như ngài đã xin. Đầu và mình
của vị tử đạo bị liệng xuống sông. Có hai người lính thấm máu vị tử đạo liền bị
tống giam. Đồ đạc, sách vở của Đức cha đều bị đốt. Chén lễ, áo lễ thì trao cho
đoàn văn nghệ sử dụng. Đến sau dân chài lưới đã vớt được thủ cấp vị tử đạo. Đức
cha Xuyên an táng thủ cấp này tại Bùi Chu. Một thời gian sau, tu viện Santo
Domingo ở Ocãna xin rước cốt của Đức cha An về tôn kính từ năm 1891, vì Đức
cha là vị Tử Đạo tiên khởi của tu viện.
Ngày 29.04.1951, Đức Thánh Cha Piô XII suy tôn Đức cha Giuse Diaz
Sanjurjo An lên bậc Chân Phước.