Thánh thi
Ca vịnh
Tv 88 (89),39-53
Ân nghĩa Chúa đối với nhà Đa-vít
Từ dòng dõi trung thần Đa-vít, Chúa đã cho xuất hiện Vị Cứu Tinh quyền thế (Lc 1,69).
IV
và thương đến cảnh nhục nhằn chúng con.
39Thế mà nay Chúa lại khinh chê ruồng bỏ,
nổi lôi đình với đấng Ngài đã xức dầu tấn phong ; *
40Chúa tiêu huỷ giao ước với người nghĩa bộc,
quăng vương miện Người xuống đất đen.
41Mọi tường luỹ của Người, Chúa đều phá đổ,
thành trì kiên cố, cũng đập tan hoang. *
42Người bị khách qua đường mạnh ai nấy cướp,
bị hàng xóm láng giềng thoá mạ.
43Chúa nâng cao quyền thế bọn áp bức Người,
và cho mọi kẻ thù được hớn hở mừng vui. *
44Mũi kiếm của Người, Chúa bắt quay ngược lại,
chẳng độ trì Người trong buổi giao tranh.
45Chúa chấm dứt thời vàng son của Người,
và lật đổ ngai rồng xuống đất. *
46Chúa rút ngắn tuổi xuân Người lại,
trút nỗi nhục nhằn xuống toàn thân.
Vinh danh Chúa Cha và Chúa Con,
cùng vinh danh Thánh Thần Thiên Chúa,
tự muôn đời và chính hiện nay
luôn mãi đến thiên thu vạn đại. A-men.
và thương đến cảnh nhục nhằn chúng con.
V
là sao mai rực rỡ huy hoàng. Ha-lê-lui-a.
47Đến bao giờ, lạy Chúa, Ngài còn lánh mặt,
Ngài lánh mặt mãi sao ? *
Đến bao giờ cơn giận còn cháy bừng như lửa ?
48Xin nhớ rằng : đời con là một kiếp phù du,
loài người Chúa dựng nên thật mỏng manh quá đỗi ! *
49Sống làm người, ai không phải chết,
ai cứu nổi mình thoát quyền lực âm ty ?
50Đâu cả rồi, lạy Chúa,
nghĩa cũ với tình xưa
Ngài hứa cùng Đa-vít
nhân danh chữ tín thành ?
51Lạy Chúa, xin nhớ rằng
các tôi tớ Ngài bị thoá mạ. *
Những lời phỉ báng của chư dân,
con đây vẫn chất chứa trong lòng.
52Vâng, lạy Chúa, kẻ thù Ngài thoá mạ, *
theo sát gót mà buông lời thoá mạ
đấng Ngài đã xức dầu tấn phong.
53Chúc tụng Chúa đến muôn đời.
A-men. A-men.
Vinh danh Chúa Cha và Chúa Con,
cùng vinh danh Thánh Thần Thiên Chúa,
tự muôn đời và chính hiện nay
luôn mãi đến thiên thu vạn đại. A-men.
là sao mai rực rỡ huy hoàng. Ha-lê-lui-a.
Tv 89 (90)
Nguyện xin Chúa chiếu
toả ánh huy hoàng xuống chúng con
Đối với Chúa, một ngày như thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày (2 Pr 3,8).
chỉ có Ngài mới tồn tại muôn đời. Ha-lê-lui-a.
1Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ,
Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn.
2Ngay cả khi đồi núi chưa được dựng nên,
địa cầu và vũ trụ chưa được tạo thành, *
Ngài vẫn là Thiên Chúa
từ muôn thuở cho đến muôn đời.
3Chúa bắt phàm nhân trở về cát bụi,
Ngài phán bảo :
“Hỡi người trần thế, trở về cát bụi đi !”
4Ngàn năm Chúa kể là gì,
tựa hôm qua đã qua đi mất rồi,
khác nào một trống canh thôi !
5Ngài cuốn đi, chúng chỉ là giấc mộng,
như cỏ đồng trổi mọc ban mai, *
6nở hoa vươn mạnh sớm ngày,
chiều về ủ rũ tàn phai chẳng còn.
7Ngài thịnh nộ, chúng con phải mạng vong,
nổi trận lôi đình : thấy mà khủng khiếp ! *
8Tội chúng con, Chúa bày ra trước mặt Ngài,
lỗi thầm kín, Thánh Nhan đều soi tỏ.
9Chúa nổi xung, đời chúng con tàn tạ,
kiếp sống thoảng qua : một tiếng thở dài.
10Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,
mạnh giỏi chăng là được tám mươi, *
mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ,
cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi.
11Cơn giận Ngài, ai lường được sức mạnh,
trận lôi đình, ai hiểu thấu căn nguyên ? *
12Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống,
ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan.
13Lạy Chúa, xin trở lại,
Ngài đợi đến bao giờ ?
Xin chạnh lòng thương xót
những tôi tớ Ngài đây.
14Từ buổi mai,
xin cho đoàn con được no say tình Chúa,
để ngày ngày được hớn hở vui ca.
15Xin ban tặng chúng con niềm hoan hỷ,
bù lại những tháng năm
Ngài đã bắt nếm nhục nuốt sầu.
16Ước gì chúng con là tôi tớ Chúa
được thấy công trình Ngài thực hiện, *
và con cháu chúng con
được thấy vinh hiển Ngài.
17Xin cho chúng con được vui hưởng
lòng nhân hậu của Chúa
là Thiên Chúa chúng con. *
Việc tay chúng con làm, xin Ngài củng cố,
xin củng cố việc tay chúng con làm.
Vinh danh Chúa Cha và Chúa Con,
cùng vinh danh Thánh Thần Thiên Chúa,
tự muôn đời và chính hiện nay
luôn mãi đến thiên thu vạn đại. A-men.
chỉ có Ngài mới tồn tại muôn đời. Ha-lê-lui-a.
Xướng đáp
XLạy Chúa, Ngài quả là nguồn sống.
ĐNhờ ánh sáng của Ngài,
chúng con được nhìn thấy ánh sáng.
Dẫn vào sách Ai ca
Trong thời lưu đày tại Ba-ben, những người Do-thái còn ở lại trong xứ có thói quen cử hành nghi lễ sám hối để nhớ lại những giờ phút đau thương nhất họ đã trải qua. Hình như khúc Ai ca đã ra đời trong bối cảnh đó. Thi nhân ca hát lòng thương cảm vô biên đối với Thành Thánh bị vây hãm, đói kém, và cuối cùng bị phá huỷ. Đây không chỉ là những kỷ niệm mà thôi. Giá trị tôn giáo thật của những vần thơ này ở ngay trong nhận thức sâu xa về tội lỗi, nhận thức đã gây cảm hứng cho thi nhân. Lời rao giảng của các ngôn sứ bắt đầu đem lại hoa trái, dù thái độ buông xuôi của những người tin vào số phận có phần nào gây cản trở cho những ai đang cố gắng trở về với Chúa : Gặp thử thách mà chấp nhận ý Thiên Chúa chứ không chống lại, không mất niềm hy vọng như ta có thể thấy qua những lời cầu xin tha thiết, thì cũng đã tốt rồi.
Vấn đề hôm nay, chẳng phải là số phận Giê-ru-sa-lem đang bị đe doạ, nhưng như thánh Phao-lô nói, dưới sức mạnh của sự dữ, muôn loài thụ tạo đang quằn quại rên siết, đợi chờ Con Thiên Chúa trở lại vinh quang thực hiện ơn giải thoát vĩnh viễn. Chính vì thế mà truyền thống mới sử dụng các vần thơ này khi cử hành cuộc Thương Khó của Chúa. Khi đọc lại những vần thơ này, hay đúng hơn, khi dùng để cầu nguyện như những thánh vịnh, chúng ta dễ dàng nghĩ đến triều đại của Thiên Chúa mà chúng ta đang hết lòng trông đợi.
Bài đọc 1 Ac 1,1-12.18-19
Khóc thương Thành Thánh hoang tàn
Giê-ru-sa-lem thú tội với Chúa, nhìn nhận hình phạt mình đang chịu là đích đáng. Chấp nhận sự thật là khởi đầu của mọi cuộc trở lại.
Trích sách Ai ca.
1Làm sao Đô Thị dân đông đúc
lại ngồi trơ, tủi nhục một mình !
Xưa lệnh bà giữa muôn dân nước,
nay khác chi quả phụ tội tình.
Bà Nữ Chúa đứng đầu các tỉnh
đã trở thành một kẻ khổ sai.
2Tỉ ti nàng khóc suốt đêm dài,
suối lệ đắng cay tràn đôi má ;
chẳng thấy kẻ nào đến ủi an
trong số những người yêu thuở trước.
Bạn hữu thân tình nay bội ước,
thành ra cả một lũ địch thù.
3Bị lưu đày, Giu-đa cực khổ,
phải làm tôi nhuốc hổ vô cùng.
Này đây giữa dân ngoại nàng đang sống,
nàng chẳng hề được vui thú nghỉ ngơi.
Mọi kẻ rượt theo nàng
đã bắt được nàng trong đường cùng ngõ hẻm.
4Đường phố Xi-on đượm màu tang tóc,
chẳng còn ai trẩy lễ lên đền.
Cổng thành vắng lặng không một bóng.
Tư tế thở than, nữ trinh sầu thảm,
cả thành chìm ngập giữa đắng cay !
5Quân áp bức nắm đầu cỡi cổ,
kẻ tử thù hớn hở sướng vui,
vì ĐỨC CHÚA làm cho nàng cực khổ
bởi tội nàng nhiều quá ;
lũ con nàng bị quân áp bức đày đi xa.
6Thiếu nữ Xi-on quả hết thời,
vẻ rực rỡ huy hoàng không còn nữa.
Thủ lãnh của nàng khác chi nai đói
không tìm ra đồng cỏ.
Họ kiệt sức bước đi
trước những người xua đuổi.
7Giê-ru-sa-lem nhớ lại
những ngày gian khổ và kiếp sống lang thang
khi dân ngã gục, không người tiếp cứu,
dưới bàn tay tàn bạo của quân thù.
Quân áp bức thấy nàng sụp đổ, thì cười nhạo khinh chê.
8Giê-ru-sa-lem phạm quá nhiều tội lỗi, nên đã ra ô uế.
Mọi kẻ xưa kia từng kính nể, nay khinh mạn cười chê,
vì thấy nàng loã thể.
Ngay chính nàng cũng phải rên siết,
cũng phải ngoảnh mặt đi.
9Trên áo nàng, vết nhơ còn rành rành ra đó,
mà nàng đâu nghĩ tới hậu vận đang chờ.
Nàng sa cơ quá mức, không một kẻ ủi an.
“Lạy ĐỨC CHÚA, xin nhìn nỗi nhục nhằn con phải chịu,
vì kẻ thù đắc thắng dương oai.”
10Quân áp bức đưa tay vét sạch các kho báu của nàng.
Phải, chính mắt nàng thấy đám dân ngoại
kéo nhau vào đền thánh.
Chúng là những kẻ Ngài cấm ngặt
không được vào nơi công hội của Ngài.
11Toàn dân rên rỉ đi tìm bánh,
đổi kho tàng lấy một chút cầm hơi.
“Lạy ĐỨC CHÚA, xin Ngài nhìn rõ,
xem con đây tủi hổ biết chừng nào !”
12“Này tất cả những ai qua lại,
hãy nhìn kỹ mà xem :
Có nỗi khổ nào so sánh được
với nỗi khổ ĐỨC CHÚA giáng trên tôi,
khi Người nổi trận lôi đình mà trừng phạt.
18Đấng chính trực công minh là ĐỨC CHÚA,
còn tôi, tôi chống lại lời Người.
Nghe đi nào, mọi dân, mọi nước,
và thấy cho nỗi khổ cực của tôi.
Con cái tôi, thanh niên, thiếu nữ, bị bắt đi lưu đày.
19Tôi ngỏ lời kêu gọi tình nhân,
nhưng chúng là những tên lừa đảo.
Tư tế và kỳ mục của tôi tắt thở trong thành nội
khi đi tìm miếng bánh để cầm hơi.
20Lạy ĐỨC CHÚA, xin hãy nhìn xem :
giữa cảnh khốn cùng, ruột gan con đòi đoạn,
trái tim con thổn thức bồi hồi.
Con quả đã cứng đầu cứng cổ.
Ngoài đường phố gươm đao thao túng,
ở trong nhà thần chết hoành hành.”
Xướng đáp x. G 16,17 ; x. Ac 1,16.18.12
XTôi khóc ròng khóc rã nên cặp mắt đỏ ngầu, vì Đấng an ủi tôi đã lìa xa tôi. Hỡi tất cả các dân tộc, hãy nhìn xem :
ĐCó nỗi đau khổ nào sánh được với nỗi đau tôi phải chịu !
XHỡi tất cả những ai qua lại trên đường, xin để ý, xin hãy nhìn xem :
ĐCó nỗi đau khổ nào sánh được với nỗi đau tôi phải chịu !
Xướng đáp x. G 16,17 ; x. Ac 1,16.18.12
XTôi khóc ròng khóc rã nên cặp mắt đỏ ngầu, vì Đấng an ủi tôi đã lìa xa tôi. Hỡi tất cả các dân tộc, hãy nhìn xem :
ĐCó nỗi đau khổ nào sánh được với nỗi đau tôi phải chịu !
XHỡi tất cả những ai qua lại trên đường, xin để ý, xin hãy nhìn xem :
ĐCó nỗi đau khổ nào sánh được với nỗi đau tôi phải chịu !
Bài đọc 2
Giê-ru-sa-lem hỡi, lòng này nếu quên ngươi...
Trích bài diễn giải thánh vịnh của thánh Bơ-ru-nô, linh mục.
Lạy Chúa Tể càn khôn, cung điện Ngài xiết bao khả ái. Mảnh hồn này khát khao mòn mỏi mong tới được khuôn viên đền vàng, nghĩa là tới thành Giê-ru-sa-lem rộng lớn trên trời, là thành đô của Chúa.
Tác giả thánh vịnh giải thích tại sao ông khao khát tới khuôn viên Đền Chúa, và đây là lý do : Lạy Chúa Tể càn khôn, là Đức Vua, là Thiên Chúa con thờ, phúc thay người ở trong Thánh Điện là Giê-ru-sa-lem trên trời. Dường như ông muốn nói : Ai lại chẳng khát khao tới khuôn viên Đền Chúa, vì Ngài là Thiên Chúa, nghĩa là Đấng Hoá Công, là Chúa Tể càn khôn, là Đức Vua, và vì mọi người ở trong Thánh Điện đều được hạnh phúc ? Khuôn viên và Thánh Điện ở đây là một. Khi nói phúc thay, là ông có ý bảo họ được hưởng hạnh phúc lớn lao biết chừng nào ! Và bởi đó, rõ ràng là họ hạnh phúc, vì họ được hát mừng Ngài, do lòng thành kính mến yêu ; họ hát mừng luôn luôn, nghĩa là muôn đời. Quả thật, họ không hát mừng muôn đời, nếu không được hạnh phúc muôn đời.
Hạnh phúc này, không ai tự mình có thể đạt được, cho dù có đức cậy, đức tin và đức mến. Nhưng chỉ kẻ nào lấy Ngài làm sức mạnh mới là diễm phúc, tức là kẻ đạt tới hạnh phúc ấy, nhờ từng bước tiến lên hạnh phúc, như họ đã quyết tâm. Nói như thế có nghĩa là chỉ được kể là sẽ đạt tới hạnh phúc, kẻ nào được ơn Ngài trợ giúp, khi đã quyết tâm tiến lên hạnh phúc đó, nhờ từng bước thực hành các nhân đức và các việc thiện. Vì chẳng ai tự mình lên trời được, như Chúa quả quyết : Không ai đã lên trời, –nghĩa là tự mình đi lên– ngoại trừ Con Người, Đấng ngự trên trời.
Tôi nói là người ấy đã ấp ủ giấc mộng hành hương, khi còn ở trong thung lũng nước mắt, nghĩa là trên cõi đời này, một cõi thẳm sâu đầy nước mắt đau thương sánh với cuộc đời mai hậu. Cuộc đời mai hậu sánh với cuộc đời này thì phải nói là ngọn núi đầy hoan lạc.
Còn khi tác giả nói : Phúc thay kẻ lấy Ngài làm sức mạnh, thì người ta có thể hỏi : Chúa có thật là sức mạnh giúp đạt được điều đó không ? Ông trả lời thế này : Quả thật, người hạnh phúc là người có Chúa làm sức mạnh, vì Đấng lập pháp là Chúa Ki-tô đã ban luật cho chúng ta, thì Người cũng đang ban và sẽ luôn ban phúc lành là muôn vàn ân sủng, nhờ đó Người giáng phúc cho những kẻ thuộc về mình, nghĩa là nâng họ lên tới hạnh phúc. Nhờ các phúc lành đó, họ sẽ đi từ nhân đức này tới nhân đức khác mà tiến lên, và trong tương lai ở thành Xi-on trên trời, họ sẽ được nhìn thấy Chúa Ki-tô, Thần các thần, nghĩa là vì Người là Thiên Chúa, nên Người cũng làm cho những kẻ thuộc về mình thông phần thần tính của Người. Nói cách khác, nơi chính những kẻ sống ở Xi-on, Thần các thần, tức là Thiên Chúa Ba Ngôi, sẽ được nhìn thấy bằng con mắt thần thiêng. Nói như thế có nghĩa là tâm trí họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa ở nơi họ, Đấng mà ở đời này họ không thể nhìn thấy, vì Thiên Chúa sẽ là tất cả nơi mọi người.
Xướng đáp 1 Ga 3,2-3
XHiện giờ chúng ta là con cái Thiên Chúa, nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được hiển hiện.
ĐChúng ta biết rằng : Khi Đức Ki-tô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ được thấy Người như vậy.
XPhàm ai đặt hy vọng như thế vào Đức Ki-tô thì sẽ cố sống trong sạch như Người là Đấng trong sạch.
ĐChúng ta biết rằng : Khi Đức Ki-tô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ được thấy Người như vậy.
Xướng đáp 1 Ga 3,2-3
XHiện giờ chúng ta là con cái Thiên Chúa, nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được hiển hiện.
ĐChúng ta biết rằng : Khi Đức Ki-tô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ được thấy Người như vậy.
XPhàm ai đặt hy vọng như thế vào Đức Ki-tô thì sẽ cố sống trong sạch như Người là Đấng trong sạch.
ĐChúng ta biết rằng : Khi Đức Ki-tô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ được thấy Người như vậy.
Thánh thi “Lạy Thiên Chúa” (Te Deum)
Lạy Thiên Chúa,
Chúng con xin ca ngợi hát mừng,
Tuyên xưng Ngài là Đức Chúa.
Chúa là Cha, Đấng trường tồn vạn đại,
Hoàn vũ này kính cẩn suy tôn.
Trước nhan Chúa, các tổng thần phủ phục, *
Mọi thiên thần và đạo binh thiên quốc
Đều cảm tạ và cung chúc tôn thờ,
Chẳng khi ngừng vang dậy tiếng tung hô :
Thánh ! Thánh ! Chí Thánh !
Chúa Tể càn khôn là Đấng Thánh ! *
Trời đất rạng ngời vinh quang Chúa uy linh.
Bậc Tông Đồ đồng thanh ca ngợi Chúa,
Bao vị ngôn sứ tán tụng Ngài.
Đoàn tử đạo quang huy hùng dũng,
Máu đào đổ ra minh chứng về Ngài,
Và trải rộng khắp nơi trần thế,
Hội Thánh Ngài hoan hỷ tuyên xưng :
Chúa là Cha lẫm liệt uy hùng,
Và Con Một Ngài chí tôn chí ái,
Cùng Thánh Thần, Đấng an ủi yêu thương.
Lạy Đức Ki-tô, Con Chúa Trời hằng sống,
Ngài là Chúa hiển vinh
Đã chẳng nề mặc lấy xác phàm
Nơi cung lòng Trinh Nữ
Hầu giải phóng nhân loại lầm than.
Ngài đã ra tay chiến thắng tử thần,
Mở cửa trời cho những ai tin tưởng.
Ngài hiển trị bên hữu Chúa Cha,
Ngày cuối cùng sẽ giáng lâm thẩm phán.
Cúi lạy Chúa, xin phù hộ bề tôi,
Ngài cứu chuộc bằng bửu huyết tuôn tràn.
Xin được hợp đoàn cùng muôn thần thánh,
Phúc miên trường vui hưởng ánh vinh quang.
Lời nguyện
Kết thúc
Chủ sự Nào ta chúc tụng Chúa.
Cộng đoàn Tạ ơn Chúa.