Thiên sứ báo mộng cho thánh Giu-se
Thiên sứ hiện đến trong giấc mộng, báo cho thánh Giu-se biết Hài Nhi bởi Thánh Thần và truyền đặt tên là Giê-su.
Hành trình những biến cố quan trọng trong Tin Mừng Mát-thêu.
Thiên sứ hiện đến trong giấc mộng, báo cho thánh Giu-se biết Hài Nhi bởi Thánh Thần và truyền đặt tên là Giê-su.
Đức Giê-su sinh ra tại Bê-lem miền Giu-đê, vào thời vua Hê-rô-đê.
Các nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem hỏi tìm vị Vua dân Do-thái mới sinh.
Ngôi sao dẫn các nhà chiêm tinh đến nơi Hài Nhi ở; họ sấp mình thờ lạy và dâng vàng, nhũ hương, một dược.
Được báo mộng, thánh Giu-se đem Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai Cập ngay trong đêm.
Hê-rô-đê nổi giận và sai giết các trẻ nhỏ tại Bê-lem và vùng phụ cận.
Khi Hê-rô-đê đã chết, thiên sứ báo mộng cho thánh Giu-se đem Hài Nhi và Mẹ Người về đất Ít-ra-en.
Thánh Gia lui về miền Ga-li-lê và đến ở tại Na-da-rét.
Gio-an Tẩy Giả xuất hiện trong hoang địa miền Giu-đê, rao giảng: Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.
Đức Giê-su từ Ga-li-lê đến sông Gio-đan để chịu phép rửa; trời mở ra và tiếng Chúa Cha phán về Người Con yêu dấu.
Thần Khí dẫn Đức Giê-su vào hoang địa; Người ăn chay bốn mươi ngày và thắng các cơn cám dỗ.
Sau khi nghe tin Gio-an bị nộp, Đức Giê-su rời Na-da-rét và đến ở tại Ca-phác-na-um bên biển hồ.
Đức Giê-su bắt đầu rao giảng: Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.
Bên biển hồ Ga-li-lê, Đức Giê-su gọi Phê-rô, An-rê, Gia-cô-bê và Gio-an bỏ lưới mà theo Người.
Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa lành bệnh tật.
Đức Giê-su lên núi, ngồi xuống và dạy các môn đệ cùng đám đông về Nước Trời.
Khi Đức Giê-su từ trên núi xuống, một người phong hủi đến bái lạy và được Người làm cho sạch.
Tại Ca-phác-na-um, Đức Giê-su chữa đầy tớ viên đại đội trưởng nhờ lòng tin khiêm tốn của ông.
Đức Giê-su vào nhà ông Phê-rô, chạm đến tay nhạc mẫu ông, và bà được khỏi sốt, trỗi dậy hầu hạ Người.
Chiều đến, nhiều người bị quỷ ám và đau yếu được đưa đến; Đức Giê-su dùng lời mà trừ quỷ và chữa lành họ.
Khi đám đông vây quanh, Đức Giê-su truyền sang bờ bên kia và đưa ra đòi hỏi của người môn đệ.
Giữa sóng gió trên biển hồ, Đức Giê-su quở trách gió và biển, và biển lặng như tờ.
Trong miền người Ga-đa-ra, Đức Giê-su giải thoát hai người bị quỷ ám và quỷ dữ phải rút lui.
Đức Giê-su trở về thành của Người, tha tội và chữa lành người bại liệt.
Đức Giê-su thấy Mát-thêu ngồi ở trạm thu thuế và gọi: Anh hãy theo tôi; ông đứng dậy đi theo Người.
Đức Giê-su dùng bữa tại nhà ông Mát-thêu. Người không đến để kêu gọi người công chính, nhưng để cứu những người tội lỗi.
Khi được hỏi về việc ăn chay, Đức Giê-su nói về chàng rể, áo mới và rượu mới.
Đức Giê-su chữa lành người phụ nữ bị băng huyết và cho con gái vị thủ lãnh sống lại.
Hai người mù kêu xin Con vua Đa-vít; Đức Giê-su chạm vào mắt họ và họ được thấy.
Đức Giê-su trừ quỷ cho một người câm, gây tranh cãi.
Đức Giê-su thấy đám đông lầm than vất vưởng như chiên không người chăn, và Người chạnh lòng thương.
Đức Giê-su ban quyền cho Nhóm Mười Hai và sai các ông đến với chiên lạc nhà Ít-ra-en.
Từ trong tù, Gio-an sai môn đệ hỏi Đức Giê-su; Người đáp bằng các việc người mù thấy, kẻ què đi và người nghèo được nghe Tin Mừng.
Đức Giê-su quở trách các thành đã chứng kiến nhiều phép lạ mà vẫn không sám hối.
Ngày sa-bát, các môn đệ bứt lúa ăn; Đức Giê-su mặc khải Con Người là chủ ngày sa-bát.
Trong hội đường, Đức Giê-su chữa người bại tay ngày sa-bát, còn những người chống đối bàn mưu hại Người.
Đức Giê-su lánh đi; nhiều người theo Người, và Người chữa lành tất cả.
Đức Giê-su chữa người bị quỷ ám vừa mù vừa câm, rồi dạy rằng Nước Thiên Chúa đã đến giữa họ.
Khi người ta xin dấu lạ, Đức Giê-su đưa ra dấu lạ ngôn sứ Giô-na.
Đức Giê-su chỉ các môn đệ và nói: ai thi hành ý muốn Chúa Cha là anh chị em và mẹ của Người.
Bên bờ biển hồ, Đức Giê-su ngồi trên thuyền và giảng cho đám đông bằng các dụ ngôn.
Đức Giê-su giải thích các dụ ngôn cho các môn đệ và nói về kho tàng Nước Trời.
Đức Giê-su trở về quê nhà và giảng dạy trong hội đường, nhưng người đồng hương không đón nhận Người.
Theo lệnh Hê-rô-đê, Gio-an Tẩy Giả bị chém đầu; các môn đệ ông đem thi hài đi chôn.
Đức Giê-su chạnh lòng thương đám đông, chữa lành họ và hóa bánh ra nhiều cho họ ăn no.
Giữa đêm khuya, Đức Giê-su đi trên mặt biển đến với các môn đệ và làm gió lặng.
Tại Ghê-nê-xa-rét, người ta đem các bệnh nhân đến với Đức Giê-su, và ai chạm vào tua áo Người đều được khỏi.
Đức Giê-su dạy rằng điều làm con người ra ô uế không phải từ ngoài vào, nhưng từ lòng mà ra.
Trong miền Tia và Xi-đôn, Đức Giê-su thử thách lòng tin của người phụ nữ Ca-na-an và chữa con gái bà.
Gần biển hồ Ga-li-lê, Đức Giê-su lên núi; người ta đặt trước mặt Người nhiều bệnh nhân và Người chữa lành họ.
Đức Giê-su chạnh lòng thương đám đông đã ở với Người ba ngày và hóa bánh ra nhiều cho họ ăn.
Người Pha-ri-sêu và Xa-đốc xin dấu lạ từ trời; Đức Giê-su nhắc lại cho họ dấu lạ Giô-na.
Đức Giê-su cảnh báo các môn đệ về giáo lý của Pha-ri-sêu và Xa-đốc.
Tại miền Xê-da-rê Phi-líp-phê, Phê-rô tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.
Đức Giê-su bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết Người phải chịu đau khổ, bị giết chết và ngày thứ ba sống lại.
Trên núi cao, Đức Giê-su biến đổi hình dạng trước mặt Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an; tiếng Chúa Cha vang lên từ đám mây.
Sau khi xuống núi, Đức Giê-su chữa đứa trẻ đau nặng mà các môn đệ không chữa được.
Tại Ga-li-lê, Đức Giê-su báo trước Người sẽ bị nộp vào tay người đời, bị giết và ngày thứ ba sống lại.
Tại Ca-phác-na-um, Đức Giê-su nói với Phê-rô về tư cách Con Thiên Chúa và bảo ông lấy đồng tiền trong miệng cá để nộp thuế.
Đức Giê-su dạy các môn đệ sống khiêm nhường như trẻ nhỏ, tránh gây cớ vấp ngã, sửa lỗi nhau và tha thứ không giới hạn.
Đức Giê-su rời Ga-li-lê, đến miền Giu-đê, bên kia sông Gio-đan, và đám đông đi theo Người.
Người Pha-ri-sêu thử Đức Giê-su về việc rẫy vợ; Người đưa họ trở về ý định ban đầu của Thiên Chúa.
Người ta đem trẻ em đến với Đức Giê-su; Người đặt tay trên chúng và chúc lành.
Một người đến hỏi về sự sống đời đời; Đức Giê-su mời gọi anh bán của cải, cho người nghèo và theo Người.
Đức Giê-su kể dụ ngôn ông chủ vườn nho trả công theo lòng quảng đại của mình.
Trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su báo trước Người sẽ bị nộp, bị kết án, bị đóng đinh và ngày thứ ba sống lại.
Đức Giê-su dạy các môn đệ rằng ai muốn làm lớn thì phải phục vụ, như Con Người đến để hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.
Khi Đức Giê-su ra khỏi Giê-ri-khô, hai người mù kêu xin Con vua Đa-vít và được Người mở mắt.
Gần Bết-pha-ghê, Đức Giê-su sai hai môn đệ đi lấy lừa mẹ và lừa con để chuẩn bị vào thành.
Đức Giê-su tiến vào Giê-ru-sa-lem; đám đông trải áo, cầm nhành cây và tung hô: Hoan hô Con vua Đa-vít.
Đức Giê-su vào Đền Thờ, xua đuổi những người mua bán và tuyên bố nhà Thiên Chúa là nhà cầu nguyện.
Trong Đền Thờ, người mù và què đến với Đức Giê-su và được chữa lành; trẻ em tung hô Người.
Đức Giê-su rời thành Giê-ru-sa-lem và đến Bê-ta-ni-a nghỉ đêm.
Đức Giê-su nguyền rủa cây vả không sinh trái; cây liền khô héo.
Trong Đền Thờ, các thượng tế và kỳ mục hỏi Đức Giê-su lấy quyền nào mà làm những việc ấy.
Đức Giê-su kể các dụ ngôn về hai người con và các tá điền sát nhân để cảnh tỉnh những người không đón nhận Nước Thiên Chúa.
Đức Giê-su ví Nước Trời như tiệc cưới, nơi những người được mời phải đáp lại lời mời của vua.
Mọi người ngạc nhiên trước câu trả lời của Đức Giê-su: của Xê-da trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.
Người Xa-đốc chất vấn về sự sống lại; Đức Giê-su mặc khải Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống.
Đức Giê-su tóm kết Lề Luật và các Ngôn Sứ nơi hai điều răn: mến Chúa và yêu người thân cận.
Đức Giê-su hỏi về Đấng Ki-tô: Người là Con vua Đa-vít, nhưng cũng là Chúa của Đa-vít.
Đức Giê-su khiển trách thói giả hình của các kinh sư và Pha-ri-sêu, rồi than khóc cho Giê-ru-sa-lem.
Khi rời Đền Thờ, Đức Giê-su báo trước rằng nơi ấy sẽ bị phá đổ, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào.
Trên Núi Ô-liu, Đức Giê-su dạy các môn đệ tỉnh thức chờ ngày Con Người quang lâm và cuộc phán xét muôn dân.
Các thượng tế và kỳ mục họp tại dinh Cai-pha, bàn mưu bắt Đức Giê-su và giết Người.
Tại Bê-ta-ni-a, một phụ nữ đổ dầu thơm quý trên đầu Đức Giê-su, chuẩn bị Người cho ngày mai táng.
Giu-đa Ít-ca-ri-ốt đến gặp các thượng tế và nhận ba mươi đồng bạc để nộp Đức Giê-su.
Các môn đệ làm theo lời Đức Giê-su và chuẩn bị bữa Vượt Qua cho Người.
Trong bữa Vượt Qua, Đức Giê-su lập bí tích Thánh Thể và báo trước các môn đệ sẽ vấp ngã.
Sau khi hát Thánh Vịnh, Đức Giê-su và các môn đệ đi ra Núi Ô-liu.
Tại Ghết-sê-ma-ni, Đức Giê-su sấp mình cầu nguyện trong cơn xao xuyến và phó mình theo ý Chúa Cha.
Giu-đa đến cùng đám đông mang theo gươm giáo và bắt Đức Giê-su.
Khi nghe Người tuyên bố Con Người sẽ ngự bên hữu Đấng Toàn Năng, các thượng tế và kỳ mục liền kết án Người phạm thượng.
Trong sân dinh thượng tế, Phê-rô ba lần chối Thầy; khi gà gáy, ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết.
Sáng sớm, các thượng tế và kỳ mục trói Đức Giê-su và nộp Người cho tổng trấn Phi-la-tô.
Giu-đa hối hận, trả lại ba mươi đồng bạc cho các thượng tế và bỏ đi.
Trước Phi-la-tô, Đức Giê-su im lặng; dân chúng xin tha Ba-ra-ba và đòi đóng đinh Người.
Lính của tổng trấn khoác áo choàng đỏ, đội mão gai và chế giễu Đức Giê-su là Vua dân Do-thái.
Trên đường ra nơi đóng đinh, quân lính bắt ông Si-môn người Ky-rê-nê vác thập giá của Đức Giê-su.
Tại Gôn-gô-tha, Đức Giê-su bị đóng đinh giữa hai tên cướp và bị người qua đường nhục mạ.
Bóng tối bao phủ mặt đất; Đức Giê-su kêu lớn tiếng rồi tắt thở, và những dấu lạ xảy ra.
Ông Giô-xếp người A-ri-ma-thê nhận thi hài Đức Giê-su, liệm trong khăn sạch và đặt vào ngôi mộ mới.
Các thượng tế và người Pha-ri-sêu xin Phi-la-tô cho niêm phong mồ và đặt lính canh.
Lúc rạng đông ngày thứ nhất trong tuần, các phụ nữ đến mộ; sứ thần loan báo: Người đã sống lại.
Đức Giê-su phục sinh gặp các phụ nữ trên đường, chào họ và sai họ báo cho các môn đệ đi Ga-li-lê.
Một số lính canh vào thành báo mọi việc cho các thượng tế; họ nhận bạc và loan tin sai lạc.
Đức Giê-su phục sinh sai các môn đệ đi làm cho muôn dân thành môn đệ bằng phép rửa và Người hứa ở cùng họ mọi ngày cho đến tận thế.