Chứng nhân đức tin
Thánh Vinh Sơn PHẠM HIẾU LIÊM
Thánh Vinh Sơn PHẠM HIẾU LIÊM, Linh mục dòng Đaminh (1732 – 1773) Hội đồng Tứ Giáo. Đọc lại chuyện các anh hùng tử đạo, chúng ta thấy các ngài bằng lời làm chứng cho Đức Kitô hai lần: bằng mang sống...
Tiểu sử
Thánh Vinh Sơn PHẠM HIẾU LIÊM, Linh mục dòng Đaminh (1732 –
1773)
Hội đồng Tứ Giáo.
Đọc lại chuyện các anh hùng tử đạo, chúng ta thấy các ngài bằng lời làm
chứng cho Đức Kitô hai lần: bằng mang sống và bằng lời nói. Các vị đã nói để
tuyên xưng niềm tin của mình, có vị giải thích những dư luận sai lầm, có vị cắt
nghĩa giáo lý. Nhưng chuyện hy hữu nhất trong chuyện 117 thánh tử đạo Việt
Nam, là linh mục Vinh Sơn Liêm và một linh mục bạn, cha Jacinto Gia, đã tranh
luận suốt ba ngày với đại diện ba tôn giáo lớn ở nước ta khi đó, là Phật Giáo,
Khổng Giáo và Lão Giáo.
Con người bởi đâu mà có? Sống ở đời để làm gì? Và chết rồi đi về đâu? Đó là
ba vấn đề lớn của cuộc nhân sinh, đã được đem ra trao đổi trong Hội đồng Tứ
Giáo. Những lời lẽ nhã nhặn và sáng sủa, những phân tích sâu sắc về lịch sử với
các trích dẫn chính xác kinh điển của Khổng Tử, Lão Tử và Phật Giáo, đã được
ghi lại trong cuốn “Hội đồng tứ Giáo” từng tái bản tới 14 lần tại SàiGòn
(Imprimerie de la Mission, Tân Định 1959), sẽ mãi mãi nhắc chúng ta nhớ đến
cha Vinh Sơn Liêm, tác giả cuốn sách, là người tham gia cuộc trao đổi, và là linh
mục Việt Nam tử đạo đầu tiên.
Vinh Sơn Hòa Bình.
Vinh Sơn Phạm Hiếu Liêm mở mắt chào đời năm 1732 tại Thôn Đông, làng
Trà Lũ, phủ Thiên Trường, trấn Sơn Nam Hạ. Thân phụ cậu, ông Antôn Doãn,
một thân hào trong thôn. Thân mẫu cậu, bà Maria Doãn, một người mẹ đạo đức,
đã hết mình với việc giáo dục con cái. Năm 12 tuổi, cận Liêm vào tu trong nhà
Đức Chúa Trời ở Lục Thủy. Qua sáu năm học tập, cậu đã tỏ ra là người thông
minh đạo đức, nên được các cha dòng Đaminh thời đó đang phụ trách địa phận
Đông Đàng Ngoài để ý. Cha chính Espinoza Huy đã chọn cậu vào số thanh niên
hưởng học bổng của vua Tây Ban Nha, gởi đi du học Manila (Phi Luật Tân) tại
trường Juan de Latran.
Sau ba năm hoc thành công xuất sắc, thầy Liêm xin gia nhập dòng Đaminh
và lãnh tu phục ngày 09.09.1753. Năm sau, thầy tuyên khấn trọng để cùng với ba
tu sĩ đồng hương
và lấy biệt hiệu là VINH SƠN HÒA BÌNH (Vincente de la
Paz). Tiếp đó, thầy Vinh Sơn học thêm bốn năm thần học và được thụ phong
linh mục năm 1758.
Thụ phong linh mục rồi, cha Liêm liền trở về phục vụ quê hương. Ngày
03.10 năm đó, khi giã từ các giáo sư và thân hữu để xuống tàu hồi hương, cha
không thể giấu nổi niềm xúc cảm với bao lưu luyến những bạn bè quen thuộc
trong tám năm qua. Về đến Trung Linh ngày 02.01.1759, cha đã không cầm nổi
nước mắt, vì vui mừng được gặp lai cha Chính Huy ra đón tận bến đò, được tái
ngộ cùng thân quyến, đồng bào xóm làng, và nhất là các giáo hữu đang nôn nao
đón chờ ngày “vinh qui” của vị linh mục du học hải ngoại.
Người loan báo Tin Mừng.
Về Việt Nam, trước hết cha Vinh Sơn được bổ nhiệm làm giáo sư chủng viện
Trung Linh. Cha đã đem hết tài trí và nhiệt thành truyền đạt cho các chủng sinh
những kiến thức cha đã thu nhập được. Nhưng nguyện vọng của linh mục Vinh
Sơn Hòa Bình lại là loan báo tin mừng bình an cho anh em. Và chẳng bao lâu,
cha rời chủng viện dấn thân vào cánh đồng truyền giáo. Cha lần lượt đảm nhiệm
các xứ Quất Lâm, Lục Thủy, Trung Lễ, Trung Linh, Trung Lao, và từ khi cha
Jacinto Gia bị bắt, cha kiêm luôn cả vùng Lai Ổn.
Hoạt động tông đồ của cha không chỉ hạn hẹp trong các giáo xứ, mà còn mở
rộng đến các làng ngoại giáo, bất chấp những khó khăn nguy hiểm của thời cấm
cách, nhất là từ thời chúa Trịnh Sâm (1767-1782). Tại bất cứ nơi nào, cha cũng
luôn nhiệt tình yêu thương giúp đỡ mọi người, nên ai ai cũng hết lòng thương
mến. Cha khích lệ mọi người thêm can đảm, cha an ủi những người buồn sầu, và
không nề hà bất cứ điều gì vì lợi ích thiêng liêng của họ.
Dầu thành công trong công tác, cha Liêm không bao giờ tự mãn với chính
mình. Trong các thư của cha, ta còn đọc được: “Xin Đức cha và cha Bề trên cầu
nguyện cùng Chúa cho con, khi dâng lễ và trong kinh nguyện, để mỗi ngày con
được hoàn thiện hơn, vui lòng đón nhận những khốn khó theo ý Chúa”. Một ông
hoàng, em thứ sáu của Chúa Trịnh Doanh, trước khi từ trần đã lãnh bí tích
Thánh Tẩy nhờ công của các cha thừa sai. Cha Liêm đón nhận tin đó như niệm
vui của giáo hội Việt Nam, và loan báo cho Bề trên Giám Tỉnh ở Manila.
Lời chứng giữa công hội.
Năm 1773, cha Vinh Sơn Liêm đi giảng cho họ Lương Đống, chuẩn bị mừng
lễ Đức Mẹ Mân Côi. Các quan nghe tin, liền cho ông Điều Cam đem quân vây
bắt cha tại nhà ông Nhiêu Nhuệ ngày 02.10. Sau một trận đòn chí tử, họ trói cha
và hai cậu giúp lễ Matthêu Vũ, Giuse Bích, rồi đem nộp cho Chánh tổng Xích
Bích. Viên Chánh tổng giam cha 12 ngày không thấy các tín hữu đưa tiền chuộc,
sau đó mới chịu giải lên Phố Hiến nộp cho quan trấn. Ở đây, cha Liêm gặp một
linh mục cùng dòng, cha Castanẽda Gia đã bị giam ở đó. Hai anh em sung sướng
cùng nhau chia sẻ ngọt bùi trong cảnh tù tội.
Ngày 20.10, quan trấn bắt hai cha mang chiếc gông có ghi bốn chữ “Hoa
Lang đạo Sư”, rồi trao cho quan phủ Thần Khê giải hai cha và hai cậu giúp lễ về
kinh đô Thăng Long, ra mắt Chúa Trịnh Sâm. Chính tại đây đã diễn ra Hội đồng
Tứ Giáo.
Có một quan lớn là chú của Chúa Tinh Đô - Vương Trịnh Sâm. Mẹ của quan
lớn, bà Thượng Trâm, quê xứ Hải Dương, vốn có đạo. Nhiều lần bà khuyên con
tòng giáo. Quan lớn liền nảy ra sáng kiến triệu tập đại hội bốn tôn giáo để trình
bày về đạo của mình. Quan nói:
- Lòng ta chuộng sự thật muốn biết đạo nào là đạo chính để thờ phượng.
Cuộc trao đổi kéo dài ba ngày, mội ngày một ấn đề về nguồn gốc con người,
mục đích cuộc đời và đời sau của mỗi người. Cha Liêm và cha Gia đại diện cho
đạo Thiên Chúa đã khéo léo trình bày đến nỗi quan lớn phải trầm trồ khen ngợi.
Nhưng vì biết Phủ Chúa vẫn cấm đạo, nên quan vẫn ngần ngại chưa theo
.
Sau đó ít bữa, hai cha lại có cơ hội để nói về đạo với Thái Tôn, mẹ của Chúa
Trịnh Sâm. Bà vì tò mò, đã cho vời các ngài vào. Không nói rõ nội dung buổi nói
chuyện ra sao, nhưng cuối cùng Thái Tôn hỏi:
- Nếu chỉ có đạo của các thầy là đạo thật thì những người không theo đạo ấy,
chết rồi đi đâu?
Cha Liêm đáp:
- Bẩm bà, sa hỏa ngục ạ!
(
Xin coi thêm hạnh tích thánh Castanẽda Gia
) Nghe thế Thái Tôn Dương Hậu
đùng đùng nổi giận, bà dùng uy tín ép con là Tinh Đô Vương phải xử tử cả hai
linh mục. Do đó, ngày 04.11, Tinh Đô Vương đã lên án trảm quyết hai cha, hai
cậu giúp lễ bị kết án lưu đày, đến khi nộp 100 quan tiền chuộc thì được trả tự do.
Ngày 07.11, hai cha bị đem đi xử, dân chúng đi theo rất đông. Khi đoàn
người dừng trước hoàng cung, một viên quan đọc bản án. Theo phong tục thời
đó, lúc này vua có thể ân xá cho tội nhân. Một viên quan khác lớn tiếng nói:
- “Hoa Lang đạo đã bị nghiêm cấm, nhưng cho đến nay, chưa người dân Việt
nào bị xử tử vì đạo này
nên vua đại xá cho tên Liêm.” Nghe thế cha Liêm vội
lên tiếng thưa rằng:
- Cha Gia bị án trảm quyết vì lẽ gì thì cũng phải lên án trảm quyết cho tôi vì
lẽ đó. Cha Gia là đạo trưởng, tôi cũng là đạo trưởng. Nếu luật nước không kết án
tôi thì cũng không được kết án cha Gia. Vì tôi là công dân nước Việt, lẽ ra tôi
phải giữ luật nước hơn ngài. Nhưng nếu giết cha Gia, còn tôi lại tha, án của nhà
vua không công bằng. Yêu cầu tha thì tha cả hai, giết thì giết cả hai. Thế mới là
án công bằng.
Những lời lẽ minh bạch của cha Liêm có thể là phát xuất từ tình nghĩa huynh
đệ, không muốn xa lìa người anh em, cũng có thể là lời xin tha cho linh mục bạn,
vì nhiều người chứng kiến cảm động và muốn cả hai được tha. Những lời lẽ đó
cũng có thể là do lòng ao ước muốn dâng hiến chính mạng sống mình để làm
chứng cho sự thật.
Dù sao thì bản án vẫn không thay đổi. Hai vị anh hùng đức tin đã vui mừng
đọc kinh Tin Kính và hát kinh Lạy Nữ Vương trên đường ra pháp trường Đông
Mơ. Những nhát gươm định mệnh đã giúp hai vị hoàn tất sứ mệnh, chứng tá
tuyệt hảo cho Đức Kitô. Thi hài các ngài được rước về an táng tại Trung Linh.
Ngày 20.05.1906, Đức Thánh Giáo Hoàng Piô X suy tôn các ngài lên bậc
Chân Phước. Riêng thánh Vinh Sơn Phạm Hiếu Liêm, nhiều trường học đã nhận
ngài làm Bổn Mạng, trong đó có trường cao đẳng Juan de Latran ở Phi Luật Tân.
Thánh nhân quả là ánh vinh quang của dân tộc Việt Nam nơi hải ngoại.