Lời Chúa Hôm Nay Thứ Hai, 15/6/2026
Ngày kính Ngày 07 tháng 11

Chứng nhân đức tin

Thánh Jacintô CASTÃNEDA GIA

Thánh Jacintô CASTÃNEDA GIA, Linh mục dòng Đaminh (1743 – 1773) Từ lời kinh tạ ơn của bà mẹ... Cuối năm 1773, tin tức linh mục Castãneda tử đạo đã về tới quê hương ngài ở Tây Ban Nha.

Linh mục dòng Đaminh 1743 - 1773 Xử trảm
Chức vụ Linh mục dòng Đaminh
Năm sinh - tử đạo 1743 - 1773
Ngày kính Ngày 07 tháng 11
Nơi tử đạo Đông Mơ
Cách tử đạo Xử trảm

Tiểu sử

Thánh Jacintô CASTÃNEDA GIA, Linh mục dòng Đaminh (1743 – 1773)
Từ lời kinh tạ ơn của bà mẹ...
Cuối năm 1773, tin tức linh mục Castãneda tử đạo đã về tới quê hương ngài
ở Tây Ban Nha. Em trai thánh nhân là Clêmentê biết trước tiên, đã hết sức thận
trọng báo tin cho mẫu thân. Bà sửng sốt hỏi:
- Tại sao Jacintô của mẹ lại chết. Anh ấy chết bệnh hay bị giết?

Clêmentê chợt nghĩ anh mình mới 30 tuổi, sợ mẹ buồn nên hỏi lại:
- Vậy mẹ muốn anh ấy chết cách nào?
Bà đáp:
- Mẹ mong vì đức tin mà Jacintô con mẹ bị giết.
Clêmentê liền nói:
- Thưa mẹ chính vì đức tin, người ta đã chém đầu anh ấy.
Ngay chiều hôm đó, bà mẹ đến nhà thờ dòng Đaminh để cùng các tu sĩ hát
lên lời tạ ơn TE DEUM.
Dấn thân và gian khổ.
Jacintô Castanẽda sinh ngày 13.10.1743 tại Jativa, thuộc giáo phận Valencia,
Tây Ban Nha. Cậu được trời phú cho một khuôn mặt xinh đẹp đặc biệt. Nhiều
người so sánh cậu đẹp như thiên thần trong các tranh của nhà danh họa Tây Ban
Nha Myrille (1862). Hơn thế nữa, chàng thanh niên tuấn tú ấy lại có một tâm
hồn cao quý, đã sớm quyết tâm dâng hiến cuộc đời phụng vụ Thiên Chúa và
truyền giảng Tin Mừng cho thế giới. Để thực hiện lý tưởng cao cả đó, cậu đã gia
nhập dòng Đaminh tại tu viện thánh Philipphê ở Valencia.
Lòng nhiệt thành truyền giáo đã đưa thầy Jacintô đến Phi Luật Tân năm
1762. Sau khi thụ phong linh mục, cha tình nguyện đi loan báo Tin Mừng ở
Trung Hoa. Dầu Trung Hoa đang trong cơn cấm cách, cha đã đến nơi vào
khoảng tháng 04.1766 cùng với cha Lavilla giảng đạo ở Phúc Kiến. Sau ba năm
nhiệt thành phục vụ, ngày 18.07.1769 hai vị linh mục bị bắt giữ 15 ngày ở Phúc
An, rồi gần hai tháng với 14 cuộc thẩm vấn ở Phúc Kiến, cuối cùng các ngài bị
trục xuất về Macao.
Không nản chí và cũng không chùn bước, tại Macao, gặp hai cha dòng khác
tới để đi Việt Nam, cha Castanẽda và Lavilla liền xin bề trên cho phép đồng
hành sang Việt Nam. Sau đó, bốn vị cùng đáp tàu đến Bắc Việt ngày 23.02.1770.
Cha Gia ở lại Trung Linh học tiếng và phong tục Việt trong sáu tháng, rồi được

cử đi truyền giáo ở khu Lai Ôn, Kẻ Diền, phủ Thái Ninh. Cha tự thuật như sau:
“Hiện nay với sự cộng tác của hai linh mục bản xứ. Quả thật tôi không đủ sức
cáng đáng hết những việc phải làm.”
Vì 60 làng có đạo mà cha Gia phụ trách ở rải rác cách xa nhau, nên cha phải
liên tục di chuyển hết làng này đến làng khác. Và chẳng bao lâu, sức khỏe của
cha giảm sút mau lẹ. Dù vậy, cha vẫn cố gắng đến thăm từng họ đạo. Giáo hữu
rất yêu mến cha, nhưng lương dân cố lập mưu bắt cha để được tiền chuộc hoặc
tiền thưởng. Do đó nhiều lần cha phải đổi chỗ để thoát khỏi những cặp mắt đang
rình rập.
Ba năm truyền giáo đã trôi qua, ngày 12.07.1773, sau khi ban bí tích cho một
bệnh nhân ở Lai Ôn, cha Gia và thầy Tân về Kẻ Diền thì lọt vào vòng vây của
quan phủ Thân Khê. Để đánh lạc hướng, thầy Tân nhanh trí chèo thuyền sang
bên kia sông Luộc, rồi lập tức quay lại cùng cha trốn vào ở làng Gia Đạo. Không
ngờ người gia chủ đi báo với quan để lãnh thưởng nên cả hai đều bị bắt.
Qua trung gian Chánh tổng Xích Bích, quan đòi 2 ngàn tiền chuộc. Cha đáp:
“Quan muốn tha thì tha chứ tôi không có tiền chụôc. Tôi sẵn sàng chịu mọi gian
khổ kể cả cái chết.” Sau nhiều ngày hành hạ cha đủ cách, quan phủ không còn hy
vọng đòi tiền chuộc nữa, mới cho giải nộp lên quan Trấn thủ Sơn Nam ở Phố
Hiến (Hưng Yên), và cha Gia bị tống giam vào ngục.
Giữa tháng 10.1773, cha hân hoan gặp một tù nhân mới, linh mục Vinh Sơn
Liêm bị bắt ngày 02.10 tại Lương Đổng, cũng bị Chánh tổng Xích Bích giam giữ
12 ngày trước khi giải lên. Thật là niềm vui lớn, hai anh em cùng dòng từ nay sẽ
đồng hành với nhau trong ngục tù cũng như trong vinh quang tử đạo. Ngày
20.10, quan Trấn truyền đóng gông hai cha có ghi hai chữ “Hoa Lang đạo Sư”
,
rồi trao cho quan phủ Thần Khê áp giải lên Thăng Long.
Suy tôn Thánh Giá trong phủ chúa.
Tại kinh thành Thăng Long, hai linh mục dòng Thuyết giáo có nhiều cơ hội

trao đổi về giáo lý với các quan. Cuộc trao đổi nổi tiếng nhất được mệnh danh là
“Hội đồng Tứ Giáo”, giữa đại diện bốn tôn giáo: Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo
và Thiên Chúa giáo. Ba đề tài được đưa ra: Người ta bởi đâu mà có? Sống ở đời
này để làm gì? Và chết rồi đi đâu? Cha Gia với kinh nghiệm giảng đạo ở Phúc
Kiến, đã thành thạo trưng dẫn những điển tích, châm ngôn của Trung Hoa,
khiến viên quan tổ chức, chú của chúa Trịnh Sâm, phải hết sức khâm phục.
Chính Tinh Đô Vương Trịnh Sâm cũng thích hỏi hai cha nhiều chi tiết về
đạo. Một hôm, ông yêu cầu cha Gia cử hành vài nghi lễ cho các quan xem, cha
liền mặc áo lễ, cắt nghĩa lễ phục và trình bày cho các quan nghe. Sau đó, cha đặt
tượng Thánh Giá trước ngai Tinh Đô Vương, quỳ xuống hôn kính sốt sắng và
đọc kinh bằng tiếng Việt các kinh Ăn Năn Tội, kinh Tin Kính, kinh Lạy Cha.
Tiếp đó, cha nâng cao ảnh Đức Mẹ và đọc kinh Lạy Nữ Vương. Cử chỉ và lời
kinh của cha gây nhiều xúc động cho những người hiện diện. Nhưng số phận của
cha đã được định đoạt trong chiếu chỉ của phủ chúa rồi. Có điều bản án đến sớm
hơn vì bà mẹ chúa Trịnh Sâm.
Khi bà Thái Tôn nổi giận.
Nguyên do bà mẹ của Tinh Đô Vương rất sùng đạo Phật. Khi nghe tin có hai
linh mục trẻ tuổi, thông thái lại điển trai và ăn nói văn hoa, liền yêu cầu được
gặp mặt và nói chuyện. Thế là hai vị được dẫn đến trước mặt Thái Tôn. Rồi một
hồi trao đổi thân mật, bỗng nhiên bà hỏi:
- Nếu như các thầy nói chỉ có đạo các thầy là đạo thật, vậy những người
không theo đạo, chết đi về đâu?
Cha Liêm điềm nhiên trả lời:
- Bẩm bà, sa hỏa ngục ạ!
Câu trả lời của vị linh mục làm Thái Tôn nổi giận, không thèm nghe giải
thích thêm, đòi xử tử hai ông đạo sư ngay lập tức. Từ đó, hai cha bị cách ly,

không cho gặp ai nữa. Ngày 04.11.1773, sau một buổi nghị án, chúa Trịnh Sâm
tuyên án trảm quyết cả hai vị.
Ngày 07.11.1773, quan quân điệu hai vị tông đồ đến pháp trường Đông Mơ
thi hành bản án. Trên đường, hai vị cùng thầm thì cầu nguyện xin Chúa thứ tha
mọi lỗi lầm, đọc kinh Tin Kính và hát “
Salve Regina
” (kinh Lạy Nữ Vương). Hai
chứng nhân Chúa Kitô cùng lãnh triều thiên tử đạo, cha Jacintô khi ấy mới 30
tuổi, với sáu năm truyền giáo ở Trung Hoa và Việt Nam. Nhưng máu ngài đã đổ
ra vun tưới cho bao hạt giống Tin Mừng âm thầm trổ bông. Thi hài hai vị tử đạo
được an táng trọng thể ở nhà thờ Trung Linh. Ngày 13.11.1775, trong diễn văn
trước Hồng Y đoàn, Đức Giáo Hoàng Piô VI đã nhắc đến chiến thắng vinh
quang của cả hai vị.
Ngày 20.05.1906, Đức Giáo Hoàng Piô X đã suy tôn hai chứng nhân anh
hùng lên bậc Chân Phước.