Chứng nhân đức tin
Thánh Phaolô TỐNG VIẾT BƯỜNG
Thánh Phaolô TỐNG VIẾT BƯỜNG, Quan thị vệ (1773 – 1833) Hiến lễ trong đêm. Thánh Phaolô Tống Viết Bường, trường hợp đặc biệt bị xử trảm về đêm.
Tiểu sử
Thánh Phaolô TỐNG VIẾT BƯỜNG, Quan thị vệ (1773 – 1833)
Hiến lễ trong đêm.
Thánh Phaolô Tống Viết Bường, trường hợp đặc biệt bị xử trảm về đêm.
Ngài là viên quan thị vệ có nhiều công trạng với vua Minh Mạng, nên vua muốn
cuộc hành hình phải diễn ra thật âm thầm, ít người biết đến. Năm giờ chiều “tử
tội” mới được báo tin giờ xử, nhưng chính lúc ấy, ông đội Bường lại coi là một cơ
may “có một không hai” cho mình. Trên đường ra pháp trường vào buổi chiều
“cuối tháng mười, chưa cười đã tối” đó, ông tìm cách đi chậm lại, và nói với đám
lý hình (trước vốn thuộc quyền ông): “Các chú đi chi mà nhanh rứa, tôi biết
đường mà, không sợ lạc mô.” Và thực ra, trời thì tối, cầu thì hẹp, lại đúng lúc
nước sông đang lên, nên đường rất khó đi. Đàng khác, ông Bường chú ý tìm
hướng đến nền cũ của nhà thờ Thợ Đúc, xin được chết tại đây. Quan đồng ý ban
cho ông như lời ước nguyện. Chính nơi đây, đã từng bao năm tháng, dưới ánh
sáng lung linh của những ngọn nến, các tín hữu tụ họp dâng lên hiến tế tối cao là
Đức Giêsu, thì lúc này dưới ánh sáng của những ngọn đuốc bừng cháy, ông đội
cũng dâng lên Chúa chính mạng sống mình. Cho đến ngày nay, ông vẫn sống
mãi trong tâm thức của mọi tín hữu Thợ Đúc, cũng như Giáo Hội Việt Nam.
Giã từ quan trường vì đức tin.
Phaolô Tống Viết Bường sinh khoảng năm 1773 tại Phú Cam, Phú Xuân
(Huế), trong một dòng tộc Công Giáo lâu đời, cũng là dòng tộc có nhiều quan
lớn, dưới triều vua Lê, chúa Nguyễn. Thân sinh là ông Nicolas Tống Viết Giảng
và bà Maria Lương. Vì tổ tiên đều làm quan, nên đến khi trưởng thành, ông được
chọn là lính thị vệ. Với đời sống liêm khiết và đức độ, sau một thời gian, ông
được thăng chức đội, và được nhà Nguyễn tuyển vào làm thị vệ hoàng cung. Vua
Minh Mạng rất hài lòng về việc phục vụ cần mẫn và nhiệt tâm của ông. Ông có
hai đời vợ, sinh hạ được tất cả 12 người con.
Vào năm 1831, giặc Đá Vách ở Quảng Nam nổi lên quấy phá, quan quân
phải đi đánh dẹp. Ông đội Bường được vua cử đi thanh sát mặt trận. Ông mau
mắn chu toàn phận sự, và trở về tâu trình thành quả đã đạt được. Nhưng có lẽ
trong thời gian đó, có người ghen ghét tố cáo ông theo đạo Công Giáo nên vua
hạch hỏi ông:
- Khi xong công tác, khanh có viếng chùa Non Nước không?
Ông bình tĩnh trả lời:
- Muôn tâu, vì Hoàng Thượng không truyền nên thần không đi. Hơn nữa,
chùa Non Nước đâu có giặc để đánh.
Vua hỏi tiếp:
- Lệ thường, dẹp giặc xong rồi thì phải vô chùa lễ bái, tại sao khanh không
đi?
Ông không ngần ngại trả lời:
- Vì hạ thần theo đạo Công Giáo.
Thế là ông đội Bường đã phải trả giá cho lời tuyên xưng của mình. Vua Minh
Mạng thịnh nộ trách mắng thậm tệ và dọa đem đi chém đầu. Một số quan chức
có cảm tình với ông đội, đứng ra can gián. Nhà vua vẫn chưa nguôi giận, ra lệnh
đánh ông 80 roi, tước hết chức quyền, và giáng xuống làm lính trơn. Dù vậy, ông
Bường vẫn vui vẻ tiếp tục phục vụ nhà vua.
Vẹn chữ trung với Chúa.
Hơn một năm sau, khoảng cuối tháng 12 năm 1832, khi chuẩn bị ra chiếu
chỉ cấm đạo toàn quốc, vua Minh Mạng đòi kê khai những người Công Giáo
trong hàng ngũ thị vệ. Lúc đó, các quan mới phát hiện ra nhiều thị vệ nghe lời
“quyến rũ” của ông đội Bường vừa gia nhập đạo. Thế là ông Bường và 11 binh sĩ
khác có tên trong danh sách được trình lên. 5 người sợ quá bỏ đạo, còn 7 người
vua hạ lệnh tống giam vào ngục tối tăm, hôi hám tại trấn phủ. Mỗi người phải
mang gông nặng gần bảy ký, chân thì bị xiềng sắt siết chặt.
Thời gian đầu, cứ độ mười ngày một lần, ông Bường lại bị đem ra tra khảo về
niềm tin. Lần nào quan cũng hỏi: “Có bỏ đạo không?” Và lần nào ông cũng trả
lời: “Lâu nay tôi chỉ thờ một Thiên Chúa dựng nên vạn vật, lẽ nào bây giờ tôi lại
bỏ Chúa tôi.” Hậu quả mỗi lần thưa như vậy là 20 đòn rách da xé thịt, nhưng
người chiến sĩ của Chúa không than trách một lời. Với chí khí một người lính
kiên cường, ông tỏ ra sẵn sàng chịu những hình khổ cay nghiệt hơn nữa. Có lần
ông nói với bạn hữu đến thăm rắng: “Kiếm cho tôi cái gì nặng hơn chứ gông
xiềng tôi còn nhẹ. Người ta còn đánh đập tôi ít quá, tôi tưởng được chịu đòn hơn
nữa kia.”
Bốn quân lính khiêng qua Thập Giá, ông đều mạnh mẽ chống cự đến cùng.
Lần kia, quan bắt lính kéo chân ông chạm vào Thập Giá, ông phản đối:
- Việc này do quan làm, chứ không bao giờ tôi làm như thế.
Quan tức giận truyền đánh tàn nhẫn hơn mọi lần khác.
Đàn áp không được, các quan quay qua dụ dỗ. Quan Hình bộ Thượng thư Võ
Xuân Cần tha thiết ông chiều theo ý vua:
- Bỏ đạo lúc này thôi, rồi sau sẽ hay, muốn làm gì thì làm.
Nhưng ông trả lời:
- Quan lớn có lòng thương thì tôi cũng xin quan lớn một điều là cho tôi được
vẹn chữ Trung với Chúa Trời.
Trong nhà giam, ông thường khuyên các bạn bị bắt hãy kiên tâm bền chí,
trông cậy và cầu nguyện Đức Mẹ luôn, để được vững lòng chịu khổ đến cùng,
vác Thập Giá theo Chúa Giêsu. Càng bị đau khổ, đời sống thiêng liêng của ông
càng gia tăng. Mỗi ngày ông siêng năng cầu nguyện, suy gẫm và đọc kinh Mân
Côi. Mỗi tháng nhờ các linh mục cải trang vào thăm, ông đều xưng tội và đón
nhận Mình Thánh Chúa. Hai linh mục An và Vững thay nhau vào khích lệ ông.
Thừa sai Jaccard Phan cũng gửi thư an ủi động viên ông. Một lần, ông sáng tác
đụơc một bài thơ gửi cha An, biểu lộ lòng trung kiên sắt đá, coi mọi khổ đau là
“niềm vui trong Chúa.”
Đường về Trời.
Thấy không thể lay chuyển đức tin của người môn đệ Chúa Kitô, quan
Thượng thư Bộ Hình liền xin nhà vua tuyên án. Vua trả lời: “Cần gì bản án, cứ
việc tra tấn không ngừng, nếu nó không chịu đạp lên Thập Tự thì cứ việc đánh
cho chết, rồi vất ra ngoài thành cho xong.”
Lần thứ hai các quan tâu lại, vua Minh Mạng mới chấp thuận châu phê bản
án trảm quyết, treo đầu ba ngày để làm gương cho kẻ khác. Tuy nhiên, vua vẫn
chưa cho thi hành ngay, có ý chờ “người tôi trung” của mình xin ân xá. Các quan
nói ý vua cho đội Bường, nhưng ông quyết liệt từ chối.
Thế là ngày 23.10.1833, lúc năm giờ chiều quân lính báo tin cho ông đội biết
giờ hành xử đã đến. Ông bình thản giã từ sáu người bạn cùng bị bắt (cả sáu người
này về sau cũng bị tử hình). Ông nói: “Xin anh em thêm lời cầu nguyện, để tôi
lãnh nhận Thánh ý Chúa. Đừng lo cho tôi, anh em hãy luôn đi theo đường lối
của Chúa.”
Trên đường ra pháp trường, lấy cớ bị trói và mang gông nặng, ông đội kéo
dài thời gian di chuyển, để được chém trên nền nhà thờ Thợ Đúc. Dọc đường,
ông gặp mặt con gái, đã về nhà chồng ở họ Thợ Đúc. Tuy không nói với nhau lời
nào, nhưng trong ánh mắt hai cha con, dạt dào biết bao tình cảm xúc động.
Dưới ánh sáng bừng bừng của những ngọn đuốc, ông đội được tháo gông, cởi
trói và tự do trong ít phút, ông tiến vài bước, bình tĩnh đứng nhìn lần cuối cùng
những mái nhà thân thương của giáo xứ vây quanh nền nhà thờ hoang tàn. Rồi
bước lên chiếc chiếu do một bạn cũ tên Thục ở Phủ Cam đưa cho lính trải. Ông
quỳ xuống cầu nguyện giây lát, và ra lệnh cho lính thi hành án xử. Quân lính trói
tay ông lại và vung gươm chém rơi đầu người chiến sĩ đức tin kiên cường. Thủ
cấp ông bị bêu ba ngày ở nhà thờ Thợ Đúc, còn thi hài vị tử đạo được an táng ở
họ Phủ Cam.
Ngày 27.05.1900, ông Phaolô Tống Viết Bường được Đức Giáo Hoàng Lêo
XIII suy tôn lên bậc Chân Phước.