Lời Chúa Hôm Nay Thứ Hai, 15/6/2026
Ngày kính Ngày 22 tháng 01

Chứng nhân đức tin

Thánh Phanxicô FEDERICH TẾ

Thánh Phanxicô FEDERICH TẾ Linh mục dòng Đaminh (1702 – 1745) Thánh Tử Đạo tiên khởi trên đất Việt Bốn mươi ba tuổi đời, mười năm truyền giáo trên đất Việt, trong đó gần tám năm bị giam cầm, cuộc đời truyền...

Linh mục dòng Đaminh 1702 - 1745 Xử trảm
Chức vụ Linh mục dòng Đaminh
Năm sinh - tử đạo 1702 - 1745
Ngày kính Ngày 22 tháng 01
Cách tử đạo Xử trảm

Tiểu sử

Thánh Phanxicô FEDERICH TẾ Linh mục dòng Đaminh (1702 – 1745)
Thánh Tử Đạo tiên khởi trên đất Việt
Bốn mươi ba tuổi đời, mười năm truyền giáo trên đất Việt, trong đó gần tám
năm bị giam cầm, cuộc đời truyền giáo của Thánh Phanxicô Tế có vẻ không
được thuận lợi, nhưng chính những năm tù đầy này đã làm nên sự nghiệp của
thánh nhân. Nhờ bối cảnh đặc biệt, vị linh mục dòng Thuyết giáo đã tiếp tục thi
hành sứ vụ của mình ngay tại kinh đô Thăng Long.
Cha vẫn đi thăm viếng và trao ban bí tích cho các giáo hữu, rửa tội cho nhiều
tân tòng. Riêng năm 1744, cha giải tội cho 1.745 người, rửa tội 73 người (trong
đó có 32 người lớn) và xức dầu cho nhiều bệnh nhân. Thành quả đó của một “tù
nhân” đủ cho mọi người thấy nhiệt tâm, tài năng, và sự khéo léo của vị Thánh Tử
Đạo đầu tiên trên đất Việt.
Tuổi xuân và khát vọng
Phanxicô Gil de Federich sinh ngày 14.12.1702 tại Tortosa, Tây Ban Nha,
quê hương của biết bao vị đại thánh và những vị thừa sai nổi tiếng. Được thừa
hưởng truyền thống đạo đức đó, từ niên thiếu, cậu đã nhận ra tiếng Chúa mời
gọi sống đời dâng hiến và đã xin gia nhập dòng Đaminh. Sau một năm tập đầy
nhiệt thành đạo đức, tu sĩ Federich tuyên khấn trọng thể tại tu viện Santa
Catalina thành Bacelona khi mới 16 tuổi.
Sau nhiều năm học tập chăm chỉ, ngày 29.03.1727 thầy Federich được thụ
phong linh mục, rồi được bổ nhiệm làm giáo sư triết lý kiêm giám sư các tu sĩ
sinh viên. Thế nhưng ước nguyện thâm sâu của tân linh mục lại là được đi
truyền giáo ở phương xa. Hai năm sau, cha xin chuyển qua tỉnh dòng Đức Mẹ

Mân Côi, là tỉnh dòng đặc trách truyền giáo ở Viễn Đông. Cha xuống tàu, đến
trụ sở tỉnh dòng tại Phi Luật Tân năm 1733.
Cha Giám tỉnh Diego tại Manila rất quí trọng khả năng, đức độ của cha
Federich, nên đã chọn cha là thư ký và phụ tá cho mình. Trong công cuộc tham
gia điều hành tại trụ sở, những tin tức ở các vùng truyền giáo ngày càng thúc đẩy
cha thực hiện khát vọng truyền giáo. Những vần thơ cầu nguyện với Đức Maria
của cha nói lên tâm tình đó:

Lạy Thánh Mẫu cao vời nhân ái! Tấm lòng con điên dại đáng thương. Ngày đêm
nung nấu can trường.
Tình bao la Mẹ, đâu phương đáp đền. Trong tâm tưởng con hằng mong ước.
Khắp muôn phương loan báo Tin Mừng. Giờ con gặp cảnh sầu thương.
Như thuyền neo bến, trùng dương xa vời
”.
Cuối cùng ước mơ cao đẹp này đã được thành tựu. Ngày 28.08.1735, cha
Phanxicô đặt chân lên đất Việt Nam. Bấy giờ là thời vua Lê Ý Tông (1735 -
1739) và Ủy Nam Vương Trịnh Giang (1729 - 1740).
Trên cánh đồng truyền giáo
Sau một thời gian học ngôn ngữ và phong tục, cha Federich đã đến phục vụ
nhiều nơi. Mới đầu ở huyện Trực Ninh (Nam Định) rồi Vũ Tiên (Thái Bình) sau
đảm nhiệm hai giáo xứ Kẻ Mèn, Bắc Trạch; tiếp đó qua huyện Giao Thủy coi họ
Lục Thủy và Quất Lâm.
Một hôm ở Quất Lâm cha đang giải tội, bỗng giáo dân chạy vào báo tin
lương dân đang lùng bắt ngài. Cha Tế vẫn bình tĩnh cầu nguyện giấy lát, rồi cứ
tiếp tục giải tội. Sự bình tĩnh và bầu khí thiêng thánh của việc trao ban bí tích
Hòa giải đã cứu cha. Những người vây bắt ngây người đứng nhìn một lát rồi rủ
nhau giải tán.
Mối dây oan nghiệt...
Mới được hai năm hoạt động ngắn ngủi, cha Tế đã bị bắt ngày 03.08.1773.

Theo sử sách, một nhà sư tên Tỉnh vốn ghét đạo Công giáo, lại muốn tìm cách
làm tiền. Nhà sư đã đến xin phép quan huyện Giao Thủy, rồi đưa người đến vây
bắt các đạo trưởng ở làng Trung Linh. May là các linh mục ở đây biết trước nên
trốn đi hết, nhưng sau đó nghe tin có đạo trưởng Âu châu ở họ Lục Thủy, nhà sư
đem quân đến vây ngay lúc Cha Tế vừa dâng Thánh lễ xong. Để nguyện đường
khỏi bị xúc phạm và giáo hữu khỏi liên lụy, cha tự nguyện ra nộp mình. Cha nói:
“Các ông tìm bắt tôi, thì chính tôi đây. Xin hãy tha cho các tín hữu của tôi.”
Khi nghe cha Tế bị giam giữ tại làng Thủy Nhai, giáo hữu của cha gom góp
tiền đến gặp sư Tỉnh xin chuộc, nhưng nhà sư chê ít và giữ cha tại nhà riêng
mười ngày. Thấy thế, giáo hữu lên tỉnh trình quan và hứa sẽ hậu tạ nếu vị linh
mục được giải thoát. Quan Trấn thủ Sơn Nam liền phái lính về Thủy Nhai bắt cả
sư Tỉnh lẫn cha Tế. Vị sư này nhanh chân chạy thoát, lên tận kinh đô tố cáo với
vua rằng: “Quan Trấn thủ đã ăn hối lộ, và làng Lục Thủy chứa chấp Tây dương
đạo trưởng”. Khi hay tin, quan trấn biết không thể tha cha Tế được nữa, nên
đành cho áp giải cha về Thăng Long. Dọc đường cha lên cơn sốt rét trầm trọng,
nhưng khi tới nơi, cha vẫn phải mang gông và bị tống giam vào ngục.
Năm tù đầy đầu tiên và bản án.
Sau khi khỏi bệnh, cha Phanxicô Tế được đưa ra tòa hai ngày liền. Các quan
đối xử tử tế với cha, nhưng dân chúng có người la ó, buông những lời khiếm nhã,
có kẻ lấy que bẻ vụn, làm những hình Thánh Giá ném vào người cha. Cha bình
tĩnh nhặt lên hôn kính và cất Thánh Giá vào túi. Trong ngục, cha được linh mục
Nghi giả làm thấy lang vào thăm bệnh, giải tội và trao Mình Thánh Chúa. Suốt
năm cha Nghi cùng cháu của bà Kính vẫn ra vào thăm và tiếp tế. Qua những
chứng nhân này, mọi người biết cha Tế luôn kiên nhẫn, bình tĩnh, không trách
cứ than van và nhiều lần còn tỏ ý muốn được tử đạo nữa.
Ngày 10.07.1738, cha Tế bị đưa ra tòa cùng với nhà sư Tỉnh. Quan Trấn Sơn
Nam Hạ khi áp giải cha về kinh đô, đã tố cáo nhà sư chứa chấp cha mười ngày

trong nhà. Để chạy tôi, vị sư này đạp lên Thánh Giá, minh chứng mình không
ủng hộ đạo Công Giáo. Về phần cha Tế khi các qua bắt cha bước qua Thánh Giá,
cha trả lời:
- Tôi không thể phạm tội nặng ấy được.
Các quan hỏi về ý nghĩa ảnh tượng Thánh Giá. Cha đáp:
- Ảnh này tượng trưng cuộc tử nạn của Con Thiên Chúa giáng sinh cứu
chuộc loài người.
Các quan nói tiếp:
- Nhưng luật triều đình cấm giảng đạo này.
Cha trả lời:
- Chẳng ai có quyền cấm giảng đạo Thiên Chúa đã truyền loan báo cho mọi
dân mọi nước. Ai cấm, tức là cướp quyền của Thiên Chúa.
Các quan nghị án một lát, rồi tuyên án trảm quyết đạo trưởng Federich Tế,
kết án sư Tỉnh và con trai phải phát lưu chăn voi. Ngày 12.09 bản án được Chúa
Trịnh Giang phê chuẩn, nhưng vì nhà sư chạy chọt chống án ở nhiều nơi, nên
bản án chưa được thi hành.
Lời Chúa không thể bị trói buộc.
Thời gian sau đó, vì tình hình chính trị bất ổn, bản án của cha Tế bị lãng
quên: Trịnh Doanh đảo chánh lật đổ anh; chiếm phủ chúa và tự phong là Minh
Đô Vương (1740-1767); rồi Lê Hiến Tông lên ngôi lấy hiệu là Cảnh Hưng (1740-
1786); giặc Lê Duy Mật nổi lên ở Thanh Hóa; dư đảng của nhà Mạc cũng nổi
loạn ở Thượng du... Những biến cố dồn dập đó làm vua quan bận rộn đến nỗi
quên mất “tử tội” của mình.
Lợi dụng hoàn cảnh đó, cha Tế khéo léo xin phép, có khi mất tiền, để được
đi lại trong thành Thăng Long thăm các tín hữu, trao ban bí tích và giảng đạo
cho lương dân. Có gia đình hai chị em bà Gạo là ngoại giáo, đã vào xin quan cho
cha Tế đến tá túc tại nhà mình. Chị bà Gạo mắc bệnh nan y, không thuốc nào

chữa nổi, sau nhờ lời cầu nguyện của cha Tế được khỏi bệnh, nên xin rửa tội
ngay. Còn bà Gạo, một thời gian sau mới xin tòng giáo lấy tên thánh là Rosa. Hai
chị em sống đạo rất gương mẫu.
Thấy cha Tế dễ dàng ra vào ngục như thế, Đức Giám mục Longer Gia ngỏ ý
muốn đặt cha làm chánh xứ Kẻ Chợ (Thăng Long), nhưng cha từ chối, vì thấy
rằng không chắc được dễ dàng mãi. Cha nói: “Một tù nhân không thể coi sóc ai
được”.
Từ ngày 30.05.1744, cha Tế có thêm một cộng sự viên rất đắc lực nữa, đó là
linh mục Matthêu Alonso Liciniana Đậu cũng dòng Đaminh, bị bắt cách đó sáu
tháng, được áp giải về Thăng Long và cùng bị giam một nơi. Niềm vui mừng xúc
động dạt dào tả sao cho hết. Hai nhà thuyết giáo thăm hỏi, an ủi, khích lệ và bàn
bạc với nhau biến Thăng Long thành môi trường truyền giáo, hợp tác với nhau
làm mục vụ tông đồ.
Giờ phút vinh quang.
Sau hơn bảy năm tù và bảy tháng được sống chung với người bạn đồng chí
hướng, ngày 22.01.1775, cha Tế bị đem đi xử. Cha tỏ vẻ hân hoan, cảm ơn và giã
biệt chị em bà Gạo, tạm biệt cha Liciniana Đậu và một số ân nhân, rồi thanh
thản tiến ra pháp trường. Riêng cha Đậu chỉ bị án chung thân, xin phép quan đi
theo đưa tiễn. Thế nhưng khi đi ngang hoàng cung, cha Đậu được tin mình cũng
bị xử trảm với linh mục bạn.
Hai vị chứng nhân nhìn nhau vui sướng. Cả hai cùng tạ ơn Chúa, vì từ đây
không bao giờ phải xa lìa nhau nữa. Tại pháp trường, giáo hữu cũng như lương
dân có mặt rất đông đều tỏ lòng thương tiếc, cảm thông. Lý hình vừa chém rơi
đầu hai vị, nhiều người òa lên khóc và ùa vào thấm máu hoặc lấy vật gì làm
thánh tích.
Theo ý Đức cha Hilario Hy, thi hài hai cha được đưa về an táng tại nhà chung
Lục Thủy. Vài ngày sau, Đức cha tổ chức thánh lễ tạ ơn long trọng, có đông đảo

các cha dòng đến dự. Ngay khi đó mọi người đều tin tưởng hai đấng đã được
lãnh triều thiên tử đạo, và bắt đầu chuẩn bị lập hồ sơ xin phong thánh.
Ngày 20.05.1906, các ngài được Đức Giáo Hoàng Pio X suy tôn lên bậc Chân
phước.