Lời Chúa Hôm Nay Thứ Hai, 15/6/2026
Ngày kính Ngày 28 tháng 07

Chứng nhân đức tin

Thánh Giuse Melchior Garcia SAMPEDRO XUYÊN

Thánh Giuse Melchior Garcia SAMPEDRO XUYÊN, Giám mục dòng Đaminh (1821 – 1858) Phác họa một chân dung. Thánh Giuse Sampedro Xuyên với 37 tuổi đời, 9 năm truyền giáo, 3 năm Giám mục (2 năm làm Giám mục phó...).

Giám mục dòng Đaminh 1821 - 1858 Xử trảm
Chức vụ Giám mục dòng Đaminh
Năm sinh - tử đạo 1821 - 1858
Ngày kính Ngày 28 tháng 07
Nơi tử đạo Bảy Mẫu
Cách tử đạo Xử trảm

Tiểu sử

Thánh Giuse Melchior Garcia SAMPEDRO XUYÊN, Giám mục dòng
Đaminh (1821 – 1858)
Phác họa một chân dung.
Thánh Giuse Sampedro Xuyên với 37 tuổi đời, 9 năm truyền giáo, 3 năm
Giám mục (2 năm làm Giám mục phó...). Những con số tương đối khiêm tốn,
nhưng sự nghiệp của thánh nhân thật lẫy lừng vì ngài đảm nhiệm địa phận lớn
nhất khi đó (154.000 người) và là địa phận chịu bách hại nặng nề nhất. Hơn nữa,
cuộc đời ngài mãi mãi là mẫu gương sáng ngời của một người luôn sống có lý có
tình, trung thành từ những việc nhỏ, khắc khổ hãm mình, nhiệt tâm truyền giáo,
chuyên chăm cầu nguyện và đặc biệt là lòng sùng kính Đức Mẹ.
Tuổi xuân đầy hứa hẹn.

Giuse Melchior Garcia Sampedro sinh ngày 29.04.1821 tại San Pedro de
Arrojo, tỉnh Oviedo, Tây Ban Nha. Gia đình cậu tuy thuộc dòng dõi quí tộc,
nhưng đã sa sút đến chỗ nghèo khổ. Ngay từ nhỏ, Melchior đã bộc lộ khuynh
hướng đạo đức của mình. Cậu thích tụ tập những em nhỏ để dạy kinh. Trong giờ
đọc kinh ban tối ở gia đình, cậu sốt sắng nhận phần xướng kinh và nghiêm trang
quỳ suốt buổi kinh.
Năm 12 tuổi, Sampedro có ý xin đi tu làm linh mục. Cha mẹ cậu tuy nghèo
nhưng vẫn vui vẻ dành dụm gởi con theo học tiếng Latinh với tu sĩ Alvarez. Để
tiết kiệm cho gia đình, cậu quyết định đi bộ mỗi ngày đến trường. Những ngày
nghỉ, cậu về giúp song thân trong việc đồng áng. Năm 1835, cậu phải xin dạy
học tư gia và phải thường xuyên dùng sách mượn. Nhờ chăm chỉ, cậu đã đạt
thành quả cao trong các kỳ thi.
Từ năm 1842, tuy vẫn còn học, Sampedro đã được mời làm giáo viên dạy
văn chương, La ngữ và âm nhạc tại trường San Jose. Năm 1844, khi đã tốt nghiệp
triết học và thần học, thầy được chọn làm giáo sư phụ tá dạy luân lý cho các tân
sinh viên. Để chia sẻ với hoàn cảnh khó khăn của gia đình, mỗi kỳ thi, thầy đều
trở về quê phụ giúp cha làm ruộng. Khi học sinh tỏ vẻ ngạc nhiên, thầy nói:
“Không có việc nào làm mất danh dự, nếu nó không trái với ý Chúa. Chính Chúa
trên trời cũng đã chọn sinh ra nơi hang đá và nằm trong máng cỏ.”
Ngoài ra trong các kỳ nghỉ hè, thầy Sapedro vẫn dạy giáo lý cho các em thiếu
nhi để lãnh nhận các bí tích. Dân chúng trong vùng tỏ vẻ mến phục thầy và quen
gọi là “ông cầu nguyện” vì thời gian dài “ông cầu nguyện” quỳ trước Thánh Thể
cũng như tập quán thầy giữ suốt đời là đọc và suy niệm sốt sắng mầu nhiệm Mân
Côi mỗi ngày.
Tu sĩ thuyết giáo.
Thế nhưng thầy Sampedro chưa thấy vậy là đủ, thầy cảm thấy Chúa kêu gọi
mình hiến thân cho ngài một cách trọn vẹn hơn trong việc truyền giáo cho

lương dân. Thầy xin vào tỉnh dòng Đaminh Mân Côi để loan báo Tin Mừng ở
Viễn Đông. Dù gia đình phản đối mãnh liệt, dù lời ngăn đe và nước mắt, thầy đã
cương quyết từ bỏ chức giáo sư, đến Ocãna, trung tâm huấn luyện của tỉnh dòng.
Thầy lãnh tu phục ngày 16.08.1845 khi đã 24 tuổi. Ngày 18.08.1846, thầy tuyên
khấn trọng thể trong dòng Đaminh.
Vì đã mãn khóa thần học ở Oviedo, bấy giờ thầy Sampedro chuẩn bị lãnh các
chức thánh và thụ phong linh mục ngày 29.05.1847 tại Madrid, rồi ngày 06.06 vị
tân linh mục dâng thánh lễ mở tay ở Ocãna. Chín tháng sau, cha Sampedro từ
Cadiz đi theo tàu Victoria cùng 4 bạn đồng hành sang Manila ngày 25.07.1848
nhằm lễ thánh Giacôbê. Khi đến nơi, Bề trên đã sắp đặt để cha phụ trách khoa
triết lý cho trường đại học Santo Tomas, nhưng cha xin phép trình bày ý nguyện
đi truyền giáo ở Viêt Nam, và Bề trên đã chấp thuận.
Chỉ 3 tháng, cha đáp tàu đến Macao, rồi đến Đông Xuyên ngày 28.02.1849
đem theo hai sắc lệnh của Tòa Thánh bổ nhiệm 2 Đức cha Hermosilla Liêm và
Marti Gia coi sóc 2 địa phận Đông và Trung mới được phân chia. Sau một thời
gian học hỏi kinh nghiệm với vị giám mục lão thành Hermosilla, cha Sampedro
được ngài đặt tên mới là Xuyên.
Sau đó, Đức cha Liêm gửi cha đến Nam Am học tiếng Việt và phục vụ ở đó
cho đến tháng 03.1850 thì được Đức cha Sanjurjo An đặt làm giám đốc chủng
viện ở Cao Xá. Tháng 7 năm đó, cha được làm đại diện Bề trên phụ tỉnh, và
tháng 8.1852 thì nhận chức Bề trên phụ tỉnh. Chu toàn trách nhiệm giáo dục của
mình, cha Sampedro còn nêu gương cho các chủng sinh về đời tông đồ truyền
giáo. Cha giữ luật chay tịnh, hãm mình theo luật dòng, mặc áo nhặm và gia tăng
nhiều việc hy sinh khác. Ngoài ra, cha còn xuất bản nhiều tập sách nhỏ truyền
bá đức tin, và đi giảng cho lương dân. Đức cha An xác nhận cả một họ đạo mới
thành lập gồm 54 gia đình, 500 tín hữu ở gần Cao Xá là kết quả lòng nhiệt thành
của cha Bề trên Sampedro Xuyên.

Giám mục trong cơn bách hại.
Tháng 8.1852, Đức cha Sanjurjo An lên kế vị Đức cha Marti Gia (qua đời
ngày 26.08). Vì địa phận quá đông, ngài xin phép Tòa Thánh để chọn cha
Sampedro làm Giám mục phụ tá hiệu tòa Tricomia. Lễ phong chức được cử
hành rất trọng thể ngày 16.09.1855 tại làng Bùi Chu, với sự hiện diện của 2
Giám mục, 49 linh mục và rất đông giáo hữu. Trong chức vụ mới, Đức cha
Sampedro Xuyên càng nhiệt thành hơn với việc truyền bá đức tin. Trong hoàn
cảnh nạn dịch lan tràn, việc rửa tội cho trẻ em ngoại đạo sắp chết gia tăng rất
nhanh. Chỉ trong năm 1855 được 35.349 em được rửa tội.
Dầu hoàn cảnh khó khăn, Đức cha Xuyên vẫn lén lút đi thăm các họ đạo, và
phải thi hành việc phục vụ hầu hết vào ban đêm. Tháng 5.1857, khi Đức cha An
bị bắt, Đức cha Xuyên tìm mọi cách để đưa ngài ra, nhưng việc chưa thành thì
Đức cha An đã bị xử tử vào ngày 20.07.
Cuộc bách hại ngày càng gia tăng, quan quân triệt hạ các nhà thờ Bùi Chu,
Lục Thủy, Phú Nhai, bệnh viện, cô nhi viện và các chủng viện. Tổng đốc
Nguyễn Đình Tân hăng hái quyết lùng bắt hết các giám mục, linh mục trong
khu vực của ông. Thủ cấp của Đức cha Xuyên được treo giá cao nên khắp nơi
đều có người rình bắt ngài.
Về phần Đức cha, sợ địa phận có ngày mất chủ chăn, đã dùng quyền Tòa
Thánh để chọn cha Berrio Ochoa Vinh làm giám mục phụ tá có quyền kế vị. Lễ
tấn phong âm thầm có một không hai cho vị giám mục “gậy tre mũ giấy” này đã
được cử hành trong một nhà giáo hữu ngày 13.06.1858 ở Ninh Cường.
Điều hành địa phận trong những ngày khó khăn, cuộc sống của Đức cha
Xuyên nổi bật về lòng đạo đức và tinh thần cầu nguyện. Ngài thường tự xưng là
“kẻ tội lỗi khốn khổ”. Ngài thường khuyên người khác: “Hãy nhìn những khuyết
điểm của tha nhân để sửa mình và sẵn sàng lắng nghe ý kiến của mọi người.”
Đức cha vẫn luôn mặc áo nhặm và suy gẫm chuỗi Mân Côi, mỗi ngày suy niệm

về Đức Mẹ Sầu Bi, Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo, mẫu gương hiệp thông với
những đau khổ của Chúa. Đặc biệt, vì tôn kính Đức Mẹ, ngài luôn khởi đầu thư
từ và các buổi nói chuyện bằng lời chúc tụng AVE MARIA.
Ngục tù và án lăng trì.
Sau lễ tấn phong cho vị giám mục phụ tá, Đức cha Xuyên đi lên Quần Cống,
rồi qua thôn Đông vài ngày, và đến Kiên Lao tạm trú tại nhà ông Trùm Khanh.
Ngày 08.07.1858, quân lính đã vây bắt được ngài và 2 chú giúp lễ: Đaminh
Nguyễn Tiệp và Mai Hiên. Quan bắt Đức cha mang gông xiềng nặng nề và giải 3
cha con lên tỉnh Nam Định.
Sau 20 ngày trong ngục, Đức cha lãnh án lăng trì ngày 28.07.1858. Trên
đường ra pháp trường Bảy Mẫu, đi sau đám lính đông đảo và lý hình 20 người
tuốt gươm trần, Đức cha Sampedro Xuyên một tay cầm sách nguyện, một tay giơ
lên ban phép lành cho dân chúng. Tuy nhiên cũng có kẻ lấy bùn ném vào ngài.
Tại pháp trường, 2 cậu Tiệp và Hiến đón nhận phép lành của Đức cha, rồi
đưa cổ chịu chém. Sau đó lý hình xô vị Giám mục nằm sấp trên chiếu có phủ vải
sẵn, tước hết y phục, chỉ để ngài mặc chiếc quần cụt. Rồi họ cột chân tay thật
căng vào 4 cọc ở 4 phía, và thêm 2 cọc ở dưới nách để nạn nhân khỏi cựa quậy.
Năm lý hình cầm sẵn 5 cái rìu chờ lệnh quan án sát ra dấu, lần lượt từng người
thi hành nhiệm vụ. Họ chặt từng chân, từng cánh tay rồi mới chặt đầu. Máu tuôn
ra đọng lại thành vũng, trong khi vị tử đạo vẫn giữ được vẻ mặt bình tĩnh, không
ngừng kêu tên Chúa Giêsu cho đến khi tắt thở.
Mấy phút sau, quân lính mổ bụng ngài, cắt buồng gan giơ lên cao và nói:
“Xem này! Gan Tây thật là to!”, rồi họ chia nhau ăn. Cuối cùng họ đẩy thi thể
ngài xuống một hố sâu, lấp đi và muốn cho voi giầy xéo nữa. Nhưng dù họ thúc
giục hò la mà đàn voi vẫn không đạp lên hố. Thủ cấp của vị tử đạo sau 3 ngày bị
bêu nơi công cộng, quân lính băm nát rồi ném xuống sông. Đến sau các giáo hữu
đưa thi thể của Đức cha về mai táng tại Phú Nhai. Năm 1888, thi hài được dời về

quê hương Oviedo, nhưng tay phải của ngài thì để lại Bùi Chu, và tay trái được
đưa về Manila, sau bị thất lạc trong Thế Chiến Thứ Hai vì bom đạn.
Ngày 29.04.1951, Đức cha Piô XII đã suy tôn Đức cha Giuse Melchior
Gracia Sampedro Xuyên lên bậc Chân Phước cùng với Đức cha An và 23 vị tử
đạo người Việt Nam. (Theo bản án của vua Tự Đức, Đức cha Xuyên bị ghép vào
tội theo Lê Văn Phụng. Nhưng Tòa Thánh có một thư chung của ngài gửi cho
địa phận (Đức cha Vinh có nói đến) cấm nổi loạn và còn ra vạ tuyệt thông chỉ
mình ngài có quyền giải.