Chứng nhân đức tin
Thánh Gioan ĐẠT
Thánh Gioan ĐẠT, Linh mục (1765 – 1798) Hiến mạng vì đoàn chiên. “Người mục tử nhân lành hiến mạng sống cho đoàn chiên.” (Ga 10, 11b).
Tiểu sử
Thánh Gioan ĐẠT, Linh mục (1765 – 1798)
Hiến mạng vì đoàn chiên.
“Người mục tử nhân lành hiến mạng sống cho đoàn chiên.” (Ga 10, 11b). Đó
là lời Đức Giêsu đã được thánh Gioan Đạt đem ra thực hiện một cách tuyệt hảo.
Đang khi quân lính truy bắt, cha có thừa cơ hội trốn thoát, nhưng vì thương các
tín hữu đang bị tra khảo, thấy quân lính tàn nhẫn đánh đập, cha đã tự nguyện ra
trình diện.
Gioan Đạt mở mắt chào đời năm 1765 tại làng Khê Cầu, huyện Bình Lục,
Thanh Hóa, địa phận Tây Đàng Ngoài. Mồ côi cha từ nhỏ, cậu đạt xin phép mẹ
để hoàn toàn hiến thân cho Chúa dưới sự chăm sóc đầy tình thương của cha
Loan xứ Đồng Chuối. Năm 18 tuổi, cậu xin vào chủng viện, sau đó, đi giúp xứ
một thời gian. Đến năm 1798, thầy mới thụ phong linh mục.
Cha Gioan Đạt được phái đến xứ Hảo Nho, Thân Phú. Vị tân linh mục hết
sức lo lắng cho các tín hữu nên được mọi người yêu quí. Cha Chính địa phận Tây
Đàng Ngoài nhận xét: “Cha Đạt có nhiều nhân đức, nhất là đức tuân phục và khó
nghèo. Cha luôn chu toàn mọi bổn phận, nên Đức cha và các vị thừa sai đều quí
mến. Lời cha giảng có sức mạnh đặc biệt, có sức thuyết phục lòng người.”
Mới thi hành sứ vụ linh mục được sáu tháng, vua Cảnh Thịnh ra sắc chỉ bắt
đạo gắt gao hơn trước. Quan trấn ra lệnh cho quân lính tầm nã các tín hữu, nhất
là các đạo trưởng. Cha Đạt phải trốn lên rừng một thời gian. Khi thấy tình hình
có vẻ lắng dịu, cha thường lén về giáo xứ ban các bí tích.
Một hôm, cha vừa hoàn tất thánh lễ an táng tại tư gia thì quân lính ập đến.
Giáo hữu đưa cha ra sau nhà, và chỉ lối cho cha thoát thân. Thế nhưng cha không
đành lòng bỏ họ ra đi. Và khi đó, lính đã tìm thấy chén thánh và áo lễ, nên đang
tra tấn chủ nhà, ông Trùm Mới và một số tín hữu khác. Như Chúa Giêsu xưa
yêu cầu quân Do Thái để các tông đồ được an toàn, cha cũng tự nguyện ra trình
diện. Ngài nói: “Vẫn biết tôi có thể trốn thoát, nhưng như thế anh chị em sẽ khổ
nhiều.”
Quân lính trói cha lại, rồi đánh đập tàn nhẫn cùng với thầy Tâm và ba vị
trong ban chức giáo xứ. Các giáo hữu ở đó định cậy đông người dùng sức mạnh
giải vây cứu cha, nhưng cha biết ý, cản họ lại: “Cứ để tôi vâng theo Thánh ý
Chúa, anh chị em ở lại bình yên, kiên trung giữ đạo, và nhớ cầu nguyện cho tôi
vững vàng đến cùng.” Trên đường áp giải cha về Thanh Hóa, khi ngang qua làng
Kẻ Dừa, có người cầm nón đưa cho cha đội, nhưng quân lính không cho.
Chứng tá trong tù.
Hai tháng tù tại Đình Đang, cha Đạt làm mọi người bỡ ngỡ, vì thấy cha trong
hoàn cảnh đó mà vẫn bình tĩnh vui vẻ. Khi các tín hữu đến thăm và khóc thương,
cha nói chuyện vui cho họ bớt u sầu và an ủi khích lệ họ. Cha nói: “Tử đạo là
phúc cao trọng, An Nam ta chưa được mấy người. Nếu được tử đạo, tôi mừng
lắm.”
Lương dân sống gần trại giam cũng cảm mến thương cha. Một thiếu phụ
lòng ngay đưa cha một chai độc dược để kết liễu cuộc đời khổ đau trong tù ngục.
Cha từ chối và giải thích cho bà biết: “Người Công Giáo chân chính, dù trong
hoàn cảnh nào cũng không chấp nhận tự tử.” Đặc biệt, cha còn cảm hóa được cả
đám lính canh ngục. Mới đầu, họ hay làm khó dễ, cứ mỗi lần đổi ca gác, họ lại
bắt các tín hữu đút lót tiền, nếu không họ sẽ hành hạ tù nhân. Sau thấy được
lòng bác ái yêu thương của cha Đạt, đám lính canh đã có thiện cảm và dễ dàng
hơn với các tín hữu. Một lần cha bênh vực cho một người lính ăn cắp nải chuối
giáo dân gửi vào cho cha. Lần khác, cha nói với họ rằng: “Khi nào tôi được phúc
trên trời, tôi sẽ chẳng quên anh em dưới thế.”
Ông Thiêng, cai ngục, tỏ lòng quí mến cha cách đặc biệt. Khi gặp riêng, ông
nói với cha rằng: “Tôi thấy cụ khôn ngoan, đạo đức thì muốn kết nghĩa huynh
đệ lắm. Ngặt vì cụ sắp bị kết án tử rồi. Tôi xin hứa biếu cụ cỗ quan tài để biểu lộ
lòng tôi quí cụ.”
Nhiều lần, cha Đạt và các tín hữu bị lôi ra quỳ trước tòa, tay chân mang
xiềng xích, cổ đeo gông. Ông hoàng Đệ là em vua Cảnh Thịnh, đích thân chủ tọa
phiên tòa. Ông bắt các anh hùng đức tin chối đạo hoặc đạp lên Thánh Giá, và dù
đã áp dụng nhiều thức tra tấn dã man, nhưng ông vẫn hoàn toàn thất bại. Có
hôm ông yêu cầu cha Đạt cắt nghĩa tấm ảnh phán xét chung, rồi nói cha đạp lên
tấm ảnh đó thì sẽ được tha. Nhưng cha cúi xuống cầm lấy ảnh và hôn kính cách
sốt sắng.
Hiến lễ dâng Thiên Chúa.
Trung tuần tháng 10, ông hoàng Đệ gọi cha ra công đường tuyên án xử tử.
Ông tưởng nghe bản án cha sẽ kinh ngạc và đổi ý, không ngờ cha lại tỏ ra hân
hoan khác thường. Về trại giam, cha thuật lại cho các bạn tù nghe án xử như một
tin mừng đến với cha. Cha Huấn xứ Bạch Bát giả làm cụ đồ bạn cũ đến thăm,
giải tội và đem cho cha Mình Thánh Chúa.
Đúng ngày hành xử, trời bỗng đổ cơn mưa như trút. Cha Đạt, cổ đeo gông
nặng trĩu, phải lẽo đẽo chạy theo lính dưới cơn mưa tầm tã tiến ra pháp trường
Trinh Hà. Tại đây, giáo dân đã trải chiếu hoa, cha bình tĩnh quỳ xuống cầu
nguyện. Khi các quan cho phép, tín hữu ùa đến bên cha lãnh phép lành cuối
cùng. Cha khuyên họ: “Là Kitô hữu, chúng ta phải vâng lệnh vua quan trong
những điều hợp lý, nhưng trước hết, phải tôn trọng lề luật Chúa.”
Một hồi chuông nổi lên, mọi người phải lui ra xa. Lý hình vung gươm kết
liễu cuộc đời vị linh mục trẻ đầy nhiệt huyết và can đảm. Giáo hữu và lương dân
đều xúm lại thấm máu vị chứng nhân đức tin. Đó là ngày 28.10.1798, khi đó cha
Đạt mới 33 tuổi, với chưa đầy một năm phục vụ trong chức linh mục. Đời sống
của cha Gioan Đạt là mẫu gương sáng ngời về tình yêu. Yêu lý tưởng, cha hiến
thân tu hành. Yêu anh em, cha tự nguyện nộp mình. Và yêu Thiên Chúa, cha
hiến tế chính mạng sống vô giá không thương tiếc. Thi hài vị tử đạo được đưa về
an táng tại nhà thờ Phúc Nhạc (Phát Diệm).
Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn cha Gioan đạt lên bậc Chân Phước ngày
27.05.1900.
Hoài Hóa là chữ Hán do các quan dịch tên cha Gagelin.
Tháng 11