Chứng nhân đức tin
Thánh Emmanuel NGUYỄN VĂN TRIỆU
Thánh Emmanuel NGUYỄN VĂN TRIỆU, Linh mục (1756 – 1798) Cho trọn đạo hiếu... Là một linh mục địa phận Đông Đàng Ngoài, với biết bao bận rộn vì công tác mục vụ, nhưng cha Emmanuel Nguyễn Văn Triệu vẫn không quên...
Tiểu sử
Thánh Emmanuel NGUYỄN VĂN TRIỆU, Linh mục (1756 – 1798)
Cho trọn đạo hiếu...
Là một linh mục địa phận Đông Đàng Ngoài, với biết bao bận rộn vì công
tác mục vụ, nhưng cha Emmanuel Nguyễn Văn Triệu vẫn không quên người mẹ
già ở quê nhà. Năm 1798, giữa cơn bách hại gay gắt của vua Cảnh Thịnh, nhất là
tại kinh đô, cha đã xin phép Bề trên về Phú Xuân thăm mẹ, và ở lại gần ba tháng
để gầy dựng cho bà một mái nhà xinh. Chính vì muốn trọn đạo hiếu với mẫu
thân mà vị linh mục đã bị bắt.
Không phải Chúa Trịnh mà là Thiên Chúa.
Emmanuel Nguyễn Văn Triệu sinh năm 1756 tại làng Kim Long, Phú Xuân
(nay là Huế). Thân phụ cậu là ông Cai Lương, Nguyễn văn Lương, một võ quan
Công Giáo phò Chúa Nguyễn đã bị tử trận trong một cuộc chiến với Tây Sơn,
Sớm mồ côi cha, cậu Triệu sống với mẹ ở Thợ Đúc, gia nhập quân đội năm 1771
khi mới 15 tuổi. Năm 1774, anh cùng các bạn gia nhập quân đội của vua Lê chúa
Trịnh, chiếm được Phú Xuân. Đến khi Tây Sơn từ phía Nam đánh lên, trở thành
chủ nhân ông mới của Phú Xuân, vệ binh Nguyễn Văn Triệu đành theo Trịnh
Khải rút về Thăng Long (1786).
Tháng 6 năm đó, quân Tây Sơn thừa thắng xông lên, tiến ra Bắc lấy cớ phò
Lê diệt Trịnh. Trịnh Khải phải mổ bụng tự tử. Rồi vua Lê Cảnh Hưng băng hà,
Lê Chiêu Thống lên ngôi, miền Bắc lại xảy ra nội chiến giữa hai phe Trịnh Lệ và
Trịnh Bồng. Chính bối cảnh nhiễu nhương thay ngôi đổi chúa đó đã làm cho
anh vệ binh Triệu phải suy nghĩ và đi đến quyết định dứt khoát cho cuộc đời
mình.
Ba mươi tuổi đời, mười lăm năm binh nghiệp với biết bao thăng trầm,
Emmanuel Triệu bước vào một khúc quanh mới, giã từ vũ khí để phụng sự Vua
trên trời và qua đó phục vụ tha nhân cách đích thực hơn. Mới đầu anh được một
linh mục dòng Tên ở Hà Nội hướng dẫn, nhưng sau anh được Đức cha Obelar
Khâm địa phận Đông Đàng Ngoài nhận vào học tại trường thần học Trung Linh.
Và năm 1793, Đức cha Alonsô Phê truyền chức linh mục. Khi đó cha Triệu đã 37
tuổi.
Nhờ nền giáo dục chu đáo từ nhỏ, cùng với những kinh nghiệm lâu năm
trong đời sống quân ngũ, và nhất là nhờ ơn Chúa giúp, cha Emmanuel Triệu trở
thành mục tử hăng say nhiệt tình và làm việc có phương pháp. Sáu năm phục vụ
trong địa phận Đông, cha đã thu hoạch được nhiều kết quả và được các bề trên
quí mến.
Đường lao vào tù.
Dưới thời vua Cảnh Thịnh (1792-1802), tình hình trong nước ngày càng
phức tạp. Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) tổ chức quân đội ngày càng mạnh,
hùng cứ ở Gia Định, hàng năm cứ đến mùa gió nồm lại đem quân ra đánh Huế.
Hỗ trợ cho cho Nguyễn Ánh có một số quân Pháp do Đức cha Bá Đa Lộc chiêu
mộ. Do đó, vua Cảnh Thịnh sinh ra ác cảm với đạo, nhất là cuối năm 1797, khi
bắt được lá thư của Nguyễn Ánh gửi Đức cha Lambertette Bình (giám mục Đàng
Trong) ở Phú Xuân, nhà vua càng nghi ngờ đạo Công Giáo tiếp tay cho giặc.
Một quan văn có đạo, quan Thượng Hồ Cung Điều nhiều lần thanh minh
trước mặt nhà vua rằng: “Đạo dạy trung quân vương, hiếu phụ mẫu, chớ có phải
đạo dạy làm giặc đâu.” Vua nghe nói thì chần chừ. Nhưng viên quan nội hầu tên
Lợi, cứ gièm pha mãi, nên cuối cùng, tháng 08.1798, một chiếu chỉ cấm đạo được
ban hành. Trước đó ba tháng, cha Emmanuel Triệu vì thương nhớ mẹ già, nên
trở về khu Thợ Đúc, Phú Xuân (Huế). Thật bùi ngùi cảm động sau 12 năm xa
cách, hai mẹ con lại gặp nhau. Giờ đây mái tóc của mẹ đã bạc phơ, còn con nay
đã 42 tuổi và là linh mục của Chúa. Cha Triệu thấy xót xa trước cảnh mẫu thân
mình phải ăn nhờ ở đậu nhà người khác, cha quyết định ở lại, cùng với bà con lối
xóm, dựng cho mẹ một mái nhà nhỏ để có nơi nương thân. Thời gian này, cha
Triệu nhân thế cũng đi thăm viếng và dâng lễ tại các họ đạo gần đó. Cha được
các tín hữu ở đây thương mến nhiều.
Ngày 07.08.1798, theo chiếu chỉ nhà vua mới ban hành, bốn cơ binh (mỗi cơ
50 quân) bất thần bao vây bốn giáo xứ vùng kinh đô. Tại xứ Thợ Đúc, quan quân
có ý tìm cha chính xứ, cha Nhơn, nhưng nhờ quan Thượng Điều đã báo tin, nên
ngài đã trốn thoát kịp. Còn cha Triệu thì mới về, nên quan không biết, quan
quân bắt một số giáo hữu trong đó có cha Triệu và tra hỏi về các linh mục. Cha
Triệu tự nguyện cung khai, nhận mình là người mà họ lùng bắt. Quân lính liền
trói tay cha lại dẫn đi. Khi thấy mẹ già khóc lóc thảm thiết, cha Triệu dừng lại
nói ít câu từ giã: “Thiên Chúa đã cho con vinh dự làm chứng cho Ngài. Xin mẹ
đừng khóc nữa. Mẹ hãy vui lòng vâng theo ý Chúa.”
Vượt qua gian khổ.
Tiếp theo đó là 40 ngày đêm thử thách trong cảnh ngục tù. Cổ mang gông,
tay chân bị xiềng xích, cha còn bị đưa ra tòa nhiều lần, chịu ba trận đòn dữ dội.
Khi các quan thẩm tra lý lịch, cha nói rõ mình sinh quán ở Phú Xuân, vì hoàn
cảnh khó khăn mới phải ra Đàng Ngoài để làm ăn, rồi được học giáo lý trong
đạo và làm linh mục. Quan hỏi:
- Thầy có vợ con ở đây hay ở Đàng Ngoài?
Cha đáp:
- Tôi không lấy vợ, vì là linh mục nên tôi sống độc thân.
Ngày 17.08 các quan định kết án voi giày nhưng một viên quan không đồng
ý nên vụ án được trì hoãn. Thời gian ở trong ngục, cha Triệu vẫn giữ được niềm
vui vẻ và tin tưởng vào Chúa. Điều an ủi cha nhất, là được một linh mục cải
trang vào thăm và giải tội. Thân mẫu cha nhiều lần cũng đến thăm. Cha an ủi bà
và xin bà cầu nguyện cho mình được trung kiên. Ngoài ra, cha tranh thủ mọi giờ
rảnh rỗi để chuẩn bị tâm hồn lãnh phúc tử đạo.
Giờ phút vinh quang.
Ngày xử được ấn định là 17.09.1798. Sáng hôm đó, các quan hỏi cha lần
cuối:
- Thầy có muốn bỏ nghề đạo trưởng về quê quán sinh sống không? Nếu thầy
đồng ý, ta sẽ xin vua tha cho.
Cha Triệu khẳng khái trả lời:
- Thưa không, tôi là đạo trưởng, tôi thà chết chớ không bỏ việc giảng đạo.
Thế là đến 10 giờ sáng cha Triệu bị điệu ra pháp trường cùng với sáu tên
trộm cướp cũng bị tử hình hôm đó. Cha bước đi bình tĩnh, trang nghiêm như
một chiến sĩ thận trọng trước giờ lâm chiến. Các tín hữu nghe tin lũ lượt đi phía
sau. Đằng trước cha, một người lính cầm thẻ bài đọc ghi bản án: “Tên Triệu, con
nhà Nguyễn Văn Lương, chuyên giảng đạo Hoa Lang, quyến rũ dân chúng theo
đạo đáng ghê tởm ấy. Vậy y phải trảm quyết.”
Tai Bãi Dâu, nơi thi hành bản án, cha Triệu quỳ xuống cầu nguyện. Theo
thói lệ, quan phát cho mỗi tử tội một quan tiền để ăn uống trước khi chết. Cha từ
chối, quan liền nói:
- Của vua ban không được coi thường.
Cha trả lời:
- Vậy xin ai đó cầm tiền giúp tôi, gửi cho người nghèo.
Một người lính thấy thế liền tát vào mặt ngài một cái. Viên quan nổi giận và
mắng anh ta:
- Chưa đến giờ xử mà mi dám ngạo ngược như thế sao?
Rồi ông quay qua mời vị chứng nhân đức tin ngồi và nói:
- Khi nào đến giờ, tôi sẽ nói cho thầy.
Cha Triệu liền ngồi và tiếp tục cầu nguyện.
Đúng giờ (12 giờ trưa), viên quan nói với vị linh mục:
- Giờ đã đến rồi.
Cha Triệu quỳ lên giơ cổ cho lý hình chém. Thi hài vị tử đạo được các tín
hữu an táng tại họ Dương Sơn, sau được cải vào nhà thờ Dương Sơn.
Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn Chân Phước cho cha Emmanuel Nguyễn
Văn Triệu ngày 27.05.1900.