Lời Chúa Hôm Nay Thứ Hai, 15/6/2026
Ngày kính Ngày 03 tháng 07

Chứng nhân đức tin

Thánh Philiphê PHAN VĂN MINH

Thánh Philiphê PHAN VĂN MINH, Linh mục (1815 – 1853) Lời nguyện là thần lương. Bên kia bờ sông Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, trước khi đến Cái Sơn Bé, theo thói quen, người ta dọn một bữa ăn ngon cho tử...

Linh mục 1815 - 1853 Xử trảm
Chức vụ Linh mục
Năm sinh - tử đạo 1815 - 1853
Ngày kính Ngày 03 tháng 07
Nơi tử đạo cha đã chẳng luôn hiên ngang tươi cười đó sao?
Cách tử đạo Xử trảm

Tiểu sử

Thánh Philiphê PHAN VĂN MINH, Linh mục (1815 – 1853)
Lời nguyện là thần lương.
Bên kia bờ sông Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, trước khi đến Cái Sơn Bé, theo
thói quen, người ta dọn một bữa ăn ngon cho tử tội trước khi xử trảm. Nhưng tử
tội, linh mục Philipphê Minh đã từ chối, chẳng phải do sợ hãi nuốt không nổi, vì
trên đường ra pháp trường cha đã chẳng luôn hiên ngang tươi cười đó sao?
Thế nhưng chỉ còn ít phút nữa để hoàn thành sứ mạng nơi trần thế, ít phút
nhưng không phải là quãng thời gian tầm thường, ít phút này là cao điểm của
một kiếp nhân sinh. Để sống trọn vẹn vài phút đó, cha Minh đã chọn một thức
ăn khác, như một thứ lương thực cần thiết cao quí hơn: cha quì xuống, ngửa mặt
lên trời âm thầm cầu nguyện. Và sau bữa ăn tâm linh cuối cùng, cha nói ngắn
gọn với lý hình: “Đã xong rồi!”
Một hồi chiêng trống vang lên, thời gian như chùng lại, trang trọng và linh
thiêng trong giờ phút cuối cùng của đời cha. Những giây phút thật ý nghĩa, thật
trọn vẹn, thật tràn trề trôi qua, cha được bước vào cõi hạnh phúc vĩnh cửu sau
khi lý hình vung nhát gươm kết liễu cuộc hành trình làm chứng cho Đức Kitô.
Soạn giả tự điển.
Sinh trưởng trong một gia đình đạo đức và lễ nghĩa thuộc làng Cái Mơn,
huyện Mỏ Cày, tỉnh Vĩnh Long, năm Ất Hợi 1815, Philipphê Phan Văn Minh,

con ông Đaminh Phan Văn Đức và bà Anna Tiếu, là người con út trong gia đình
có 14 anh chị em. Cha mẹ cậu mất sớm, mọi việc trong nhà đều do một người
chị đảm đang. “Bà mẹ thứ hai” này đã hết lòng lo cho các em cả về vật chất lẫn
tinh thần. Cậu Minh được học hỏi giáo lý chu đáo để rước lễ lần đầu, rồi lãnh
nhận bí tích Thêm sức năm 13 tuổi. Sau đó cậu được Đức cha Tabert Tứ nhận
cho đi học chủng viện Lái Thiêu. Nhưng chỉ ít lâu, do sắc lệnh cấm đạo 1833 của
vua Minh Mạng, chủng viện phải giải tán.
Thời gian này thầy Minh được theo Đức cha Tứ qua Thái Lan rồi đến trọ tại
chúng viện Pénang, Mã Lai. Thầy có vinh dự được Đức cha gọi qua Calcutta (Ấn
Độ) để hợp tác với ngài soạn bộ tự điển Latinh-Việt Nam năm 1838. Khi Đức
cha qua đời, thầy lại trở về Pénang tiếp tục học thần học. Các giáo sư và bạn học
đều quí mến thầy, một sinh viên xuất sắc, học giỏi và có tinh thần đạo đức.
Vị tông đồ hăng say.
Hết thời gian học tại Pénang, thầy Minh trở vế nước và được Đức cha
Cuénot Thể trưyền chức linh mục năm 1840 tại Gia Hựu.
Sau khi vua Minh Mạng băng hà, Giáo Hội được hưởng một thời an bình dễ
chịu hơn. Vua Thiệu Trị lên ngôi tuy không hủy bỏ những sắc lệnh cấm đạo,
nhưng không gắt gao thi hành như trước nữa. Nhờ đó, cha Minh có thể đi thăm
viếng, dạy kinh cho các tín hữu vùng Tiền Giang, Hậu Giang. Những làng như
Đầu Nước, Xoài Mút, Chợ Búng, Ba Giồng, Cái Nhum, Cái Mơn, Bãi San, Chà
Và, Mặc Bắc... đều còn ghi dấu chân truyền giáo của cha. Khi vua Tự Đức lên
ngôi năm 1847, việc cấm đạo vẫn lắng dịu ít lâu. Nhưng sau đó lại trở nên dữ dội
hơn bao giờ hết.
Sau chiếu chỉ tháng 08.1848, và nhất là chiếu chỉ tháng 03.1851 truyền phải
chém đầu thả trôi sông Tây dương đạo trưởng, tra tấn và xử tử các giáo sĩ bản
quốc cố chấp, phát lưu những người theo “Gia Tô Tả đạo”. Vua còn ghi rõ các
quan phải triệt để thi hành mệnh lệnh này. Trong tình hình mới hết sức khó

khăn đó, cha Minh vẫn bình tĩnh chu toàn phận sự của một mục tử: cha vẫn đi
lại khuyến khích các tín hữu, mở các lớp giáo lý và trao ban các bí tích.
Khi đó ở làng Mặc Bắc, có một người tên Nhẫn, vì có lần xin tiền cha Lựu
không được nên để tâm thù oán và đi tố giác với quan. Ngày 26.02.1853, quan
sai lính đến vây nhà ông Trùm Lựu, nhưng cha Lựu đã đi nơi khác, còn cha
Minh và vài chủng sinh đang trọ ở đó. Để cứu cha Minh, ông Trùm Lựu ra nói:
“Thưa quan, không có đạo trưởng Lựu ở đây. Lựu chính là tên tôi.” Họ thấy dáng
dấp cụ chỉ là nông dân lam lũ, nên tiếp tục đi lục soát khắp nhà. Khi đó, cha
Minh sợ quan quân vì mình mà hại gia đình ông Trùm, nên ra mặt nhận mình là
linh mục. Thế là cùng với bảy vị chức dịch trong vùng, cha bị bắt trói, đeo gông
và đẩy xuống thuyền đưa về giam tại Vĩnh Long.
Tại đây quan Tổng đốc hạch hỏi cha về các linh mục khác, những nơi đã trú
ẩn, nhưng không khai thác được điều gì cả. Những ngày này quan dùng mọi
cách, khi thì dụ dỗ, khi dọa nạt, khi sai lính kéo`cha qua khỏi Thập Giá để bắt
cha chối đạo. Nhưng cha Minh vẫn giữ lập trường của mình, trung thành với
Đức Kitô và Giáo Hội. Thấy cha còn trẻ, mới 38 tuổi, lại hiền lành, học thức, các
quan muốn tìm cách cứu cha, họ không bắt cha bước qua Thập Giá nữa, chỉ cần
cha nói miệng là “Đã bỏ đạo” cũng được tha. Nhưng cha Minh một mực từ chối
đề nghị này.
Đường về trời.
Không thể làm gì hơn được, các quan cho lính đưa cha về giam tại Tuyến
Phong chờ ngày lãnh án. Nghe án xử từ kinh đô đã gửi về, cha Minh quỳ gối tạ
ơn Chúa, rồi an ủi các anh em bạn tù nên vui lòng tuân theo ý Chúa, hẹn tái ngộ
trên Nước Trời. Cha nói: “Xin anh em vững lòng tin và hết dạ cậy trông Chúa.
Ngài chẳng từ bỏ ai, và sẽ thưởng công bội hậu cho những ai tận tâm tôn thờ
Ngài.” Cha cũng căn dặn một tín hữu ở ngoài: tiền bạc của cha nếu còn lại, đừng
phí tổn ma chay lớn làm gì, cứ đem phân phát cho người nghèo.

Cuối cùng ngày mong đợi của cha đã đến. Cha vui vẻ lần chuỗi tiến ra pháp
trường. Qua bờ sông Long Hồ đến Cái Sơn Bé, quân lính dọn bữa ăn sau cùng,
nhưng cha Minh không thiết gì nữa. Cha chăm chú cầu nguyện. Sau hồi chiêng
trống rền vang, lưỡi gươm lý hình đã đưa linh hồn vị anh hùng tiến thẳng về
Thiên Quốc. Lời nguyện cầu thánh thiện sau hết của cha Minh còn âm vang
trong lòng những người hiện diện: “Lạy Chúa, xin thương xót con. Lạy Đức
Giêsu, xin cho con sức mạnh và can đảm chịu khổ để vinh danh Ngài. Lạy Mẹ
Maria xin nâng đỡ con.”
Hôm đó là ngày 03.07.1853. Thi thể vị tử đạo được đưa về an táng dưới nền
một nhà thờ mới bị đốt phá ở Cái Mơn. Năm 1960, di cốt của Ngài được đưa về
Vương Cung Thánh đường Sài Gòn trong dịp lễ cung hiến.
Đức Lêo XIII suy tôn cha Philipphê Phan Văn Minh lên bậc Chân Phước
ngày 27.05.1900. Chủng viện địa phận Vĩnh Long đã nhận thánh Philipphê
Minh làm bổn mạng.