Chứng nhân đức tin
Thánh Phêrô KHANH
Phêrô Khanh sinh khoảng năm 1780 tại làng Nguyên Kiệt, xã Hoa Duệ, tỉnh Nghệ An. Ngay từ nhỏ, cha mẹ đã gửi cậu vào trong nhà xứ để được đào tạo thành thầy giảng.
Tiểu sử
Phêrô Khanh sinh khoảng năm 1780 tại làng Nguyên Kiệt, xã Hoa Duệ, tỉnh
Nghệ An. Ngay từ nhỏ, cha mẹ đã gửi cậu vào trong nhà xứ để được đào tạo
thành thầy giảng. Vì nhiệt thành với Giáo Hội và thấy rõ nhu cầu dân Chúa, thầy
Khanh xin phép và được bề trên chấp thuận cho học thêm để trở thành linh mục.
Nếu xưa kia thánh Ignatiô đã ngoài 30 tuổi còn cắp sách đến trường thì thầy
Khanh năm 25 tuổi mới bắt đầu vật lộn với những mẫu chia danh từ Latinh đầu
tiên. Suốt 14 năm liền, thầy kiên trì tự học, tìm các linh mục để hỏi thêm và cuối
cùng thầy được toại nguyện. Năm 1819, khi đã 39 tuổi, thầy thụ phong linh mục.
Như một nhà thám hiểm leo núi, khi đã tới đỉnh núi, nhìn thấy cả một bầu
trời rộng lớn bao la thì muốn mời gọi nhiều người cùng lên cao với mình. Cha
Khanh sau khi lãnh sứ vụ linh mục, nhìn thấy rõ hơn cánh đồng Việt Nam bát
ngát còn thiếu thợ gặt, biết bao tín hữu cần người săn sóc truyền giảng Tin
Mừng cứu độ. Cha thấy rõ các vị thừa sai và linh mục bạn nằm xuống trong cuộc
bách hại, việc truyền giáo đang cần những bàn tay kế thừa để phát triển. Do đó,
tuy bận rộn với việc mục vụ, cha đầu tư mọi khả năng của mình đào tạo linh
mục tương lai.
Theo sự điều động của địa phận, cha phục vụ tại nhiều nơi: họ Trai Lẻ, họ
Quỳnh Lưu, rồi sau đến các xứ Thọ Kỳ, Thọ Nhinh, Long Trương, Ngân Sáu.
Nhưng ở bất cứ nhiệm sở nào, bất cứ lúc nào, nhà cha cũng là một tiểu chủng
viện thu hẹp. Cha nuôi một số thiếu niên nam, dạy giáo lý, hướng dẫn và gợi lên
trong các em nhiệt tâm tông đồ. Với tình yêu của người cha, với sự thận trọng
tinh tế của một nghệ sĩ, cha chú tâm vào việc đào tạo những nhà lãnh đạo tương
lai trong Giáo Hội.
Bên cạnh những bài học và lời giáo huấn, chính đời sống cha là một gương
sống động cho họ, khi cha dâng lễ, mọi người như gặp gỡ được Thiên Chúa. Khi
cha giảng, mọi người đều thấy sốt sắng thêm lên. Không bao giờ cha ngại ngùng
với bất cứ điều gì. Vì ích lợi các linh hồn, cha vui vẻ chu toàn các công tác không
một lời ta thán. Giữa đêm khuya, nếu có ai gọi đi giúp bệnh nhân, sẽ thấy cha
nhanh nhẹn thế nào.
Trong một giai đoạn lịch sử khó khăn, việc đào tạo phải thực hiện một cách
lén lút và riêng tư từng người một thì con số 40 chủng sinh, tám linh mục quả là
một con số đáng kể với 22 năm linh mục của cha. Quả là bó lúa chín vàng nặng
trĩu hạt mà cha đóng góp được cho Giáo Hội Việt Nam.
Năm 1841, vua Minh Mạng băng hà, tình hình Giáo Hội có vẻ tự do hơn, cha
Khanh càng an tâm và hăng say với sứ vụ tông đồ hơn trước. Nào ngờ cuối tháng
01.1842, khi tháp tùng cha Masson, phụ tá giám quản đi công tác ở Hà Tĩnh, cha
bị quân lính chặn lại khám xét và bắt giam.
Không chỉ là thầy lang.
Mới vào tù được ít bữa, cha đã được mọi người kể cả lính canh ngục quý mến
vì tính vui vẻ và hòa nhã. Uy tín của cha gia tăng nhờ tài năng y sĩ, nhất là sau
một lần chữa bệnh nổi tiếng. Viên cai ngục ở Hà Tĩnh có một cô tình nhân đang
mang thai lại mắc bệnh, cô đã chạy nhiều thầy thuốc vẫn không khỏi. Nghe lời
đồn đãi, ông cai đến nhờ cha Khanh chữa trị, và đích thân cha đến phòng bệnh
nhân.
Sau khi chẩn bệnh, cha kê cho ông một toa thuốc nam gồm năm loại dược
thảo để sắc lên cho bệnh nhân uống. Sáng hôm sau, một gia nhân của ông sai
đến lạy cha ba lạy để báo tin bệnh đã thuyên giảm. Cha hỏi lại bệnh đã giảm thật
chưa, rồi cho thuốc một ngày nữa, đến ngày thứ ba bệnh khỏi hẳn. Từ đó khắp
miền Hà Tĩnh đều biết tiếng và ca tụng người tù nhân là thầy thuốc “mát tay”.
Nhưng điều cha vui mừng thực sự không phải vì tiếng đồn cho bằng việc có
nhiều người đến xin học đạo, trong đó có song thân của quan án. Ngay cả cô gái
đã được cha chữa trị, sau khi sinh con trai, cũng đến xin cha rửa tội cho mình và
con.
Vì mến phục vị chứng nhân đức tin, các quan tỉnh tìm cách cứu cha khỏi
chết. Các ông đề nghị cha giấu chức vụ linh mục, trước sau cứ khai nghề thầy
lang thì họ sẽ tìm cách xin ân xá. Nhưng cha Khanh không chấp nhận đề nghị
nói dối ấy. Thế là bản án của cha được gửi về Huế để vua Thiệu Trị ký duyệt.
Ngày 11.07.1842, bản án được gửi lại Hà Tĩnh kết án cha là “một kẻ điên rồ”, mù
quáng và dốt nát đáng chém đầu.
Ngay sáng hôm sau, bản án được thi hành, chấm dứt năm tháng rưỡi ngục tù
và 62 năm sống trên dương thế của vị chứng nhân đức tin. Thi thể vị tử đạo được
đưa về Kẻ Gòn, cha Masson cử hành tang lễ cách trọng thể với sự tham dự đông
đảo của các tín hữu.
Ngày 02.05.1909, Đức Giáo Hoàng Piô X suy tôn cha Phêrô Khanh lên bậc
Chân Phước.