Lời Chúa Hôm Nay Thứ Hai, 15/6/2026
Ngày kính Ngày 11 tháng 05

Chứng nhân đức tin

Thánh Matthêu LÊ VĂN GẪM

Thánh Matthêu LÊ VĂN GẪM, Thương gia (1813 – 1847) Liều thân vì đại nghĩa. Năm 1844, theo lời yêu cầu của Đức cha Cuénot Thể, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô XVI chia địa phận Đàng Trong thành hai địa phận: Địa phận...

Thương gia 1813 - 1847 Xử trảm
Chức vụ Thương gia
Năm sinh - tử đạo 1813 - 1847
Ngày kính Ngày 11 tháng 05
Nơi tử đạo Da Còm
Cách tử đạo Xử trảm

Tiểu sử

Thánh Matthêu LÊ VĂN GẪM, Thương gia (1813 – 1847)
Liều thân vì đại nghĩa.
Năm 1844, theo lời yêu cầu của Đức cha Cuénot Thể, Đức Giáo Hoàng
Grêgôriô XVI chia địa phận Đàng Trong thành hai địa phận: Địa phận Đông
gồm các tỉnh miền Trung, và địa phận Tây gồm các tỉnh miền Nam và
Campuchia.
Địa phận Tây được trao cho Đức cha Lefèbvre Nghĩa, khi đó đã bị trục xuất
và đang ở Singapore. Phải đưa Đức cha về địa phận, đó là điều mong ước của
toàn thể tín hữu và hàng giáo sĩ ở Nam Việt. Thánh Matthêu Gẫm đã đứng ra
đảm nhận công tác này, dù đã lường trước được những nguy hiểm đến tính
mạng. Và thực tế ngài đã bị bắt và đã hy sinh vì sứ mạng này. Tấm gương sáng
ngời của thánh nhân sẽ muôn đời sống mãi trong lòng các tín hữu Việt Nam yêu
mến Giáo Hội mình.
Người gia trưởng gương mẫu.
Matthêu Lê Văn Gẫm chào đời năm 1813 thời vua Gia Long, tại họ Tắt,
thuộc làng Long Đại, xứ Gò Công, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc huyện Thủ Đức). Là
con đầu lòng trong một gia đình năm anh em trai và một em gái út, Matthêu
Gấm đã thừa hưởng nơi thân phụ, ông Phaolô Lê văn Lại và thân mẫu, bà Maria
Nguyễn thị Nhiệm, một truyền thống đạo đức thâm sâu.
Năm 15 tuổi, cậu Gẫm xin phép cha mẹ gia nhập chủng viện Lái Thiêu để tu
học làm linh mục. Nhưng chỉ một tháng sau, song thân đã đến xin cậu về. Vì là
anh cả một đàn em nhỏ dại, cậu đã vâng lời cha mẹ về phụ giúp gia đình lao
động kiếm sống. Và Chúa đã hướng dẫn cậu theo lối đi khác. Khoảng 20 tuổi,

chàng thanh niên vạm vỡ ấy kết hôn với một thiếu nữ thuộc họ Thành, làng
Long Điền, Bà Rịa (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai). Hai vợ chồng
sống với nhau rất êm ấm thuận hòa và sinh hạ được bốn người con.
Trong nghề thương mại thường phải xa nhà, một lần kia Matthêu Gẫm sa
ngã, theo đuổi một thiếu nữ khác. Nhưng khi nghĩ lại, ông cương quyết từ bỏ
mối tình ngang trái. Để bù lại, ông tỏ ra yêu vợ nhiều hơn và chú tâm vào việc
giáo dục con cái, nhất là về đời sống đạo đức. Trong bốn người con thì con
trưởng và con út qua đời vì bệnh, người thứ hai đứng ra cản việc đốt nhà thờ Cầu
Ngang nên bị giết, còn người thứ ba bị bắt vì đạo và chết thiêu trong khám
đường cùng với nhiều người khác tại Bà Rịa ngày 07.01.1862. Hai người con tử
đạo, quả là bằng chứng rõ rệt về đường lối giáo dục đức tin của ông.
Người thương gia quảng đại.
Vì có thuyền riêng và rành nghề đi biển, công việc buôn bán của ông
Matthêu Gẫm càng ngày càng phát đạt. Ông quảng đại giúp đỡ các giáo sĩ và
được các thừa sai tín nhiệm. Trong chương trình của cha Lợi, quản lý nhà chung
Bà Rịa, thì thỉnh thoảng ông lại làm một chuyến qua Hạ Châu (Singapore) hay
Pénang (Mã Lai) để đón các thừa sai và các chủng sinh Việt Nam du học về nước
hoặc chuyển các đồ thờ tự và sách báo đạo. Một số chuyến đi về êm xuôi, nhưng
rồi công việc bại lộ, và các quan địa phương để ý theo dõi ông rất gắt.
Năm 1846, vì nhu cầu của địa phận, ông nhận lời với cha Lợi sang Singapore
đón Đức cha Đaminh Lefèbvre Nghĩa, cha Duclos Lộ và ba chủng sinh về Sài
Gòn. Như có linh cảm chuyến này khó thoát, nên ông đến giã từ cha mẹ nội
ngoại, dặn dò vợ con kỹ càng ước vọng của mình rồi mới lên đường. Chuyến đi
được êm xuôi. Ngày 23.05, thuyền nhổ neo quay về thì gặp bão tố, và mất thêm
bốn ngày trốn chạy một tàu cướp biển, nên ông trễ hẹn. Ngày 06.06, ông mới
vào cửa Cần Giờ, ông Trùm Huy họ Chợ Quán đã chờ ở đó sáu ngày để chuyển
người mà không gặp, nên đã trở về nhà.

Vì biết mình là đối tượng bị theo dõi, ông Gẫm đã cẩn thận neo thuyền chờ
thêm hai ngày, đến khi không thấy ai ra đón, mới quyết định đánh liều đi sâu
vào Sài Gòn. Vừa thoát qua một đồn canh, ông gặp một chiếc thuyền tuần tiễu,
ông nhanh trí hối lộ cho họ mười nén bạc để thoát thân. Năm người lính trên
thuyền này, sau một hồi tranh luận, sợ chuyện bị bại lộ, nên quay thuyền lại và
rượt theo để trả tiền và bắt thuyền ông. Ông Gẫm kêu gọi các anh em trên
thuyền hợp tác, định chống trả nhưng Đức cha Nghĩa không đồng ý vì cho rằng
trái với tinh thần nhân hậu của Kitô giáo.
Khổ giá và vinh quang.
Sáng 08.06.1846, với sự yểm trợ của một số lính trên thuyền khác mới tới,
quân lính nhà vua áp tải thuyền ông Gẫm về Bến Nghé. Đức cha Nghĩa và cha
Lộ bị giam ở Công Quán. Cha Lợi qua đời trong tù ngày 17.07.1846, còn vị
Giám mục thì được giải ra kinh đô Phú Xuân. Tại đây, vua Thiệu Trị lên án xử
trảm, sau đổi thành án trục xuất về Singapore (sau ngài lại tìm cách vào Việt
Nam). Ông Matthêu Gẫm tự nhận là người chủ mưu nên bị biệt giam ở Sài Gòn.
Vài ngày sau, các quan đưa ông ra tòa lấy khẩu cung và kêu gọi quá khóa. Dù
bị đòn đánh đau đớn, ông Gẫm vẫn hiên ngang chịu đựng, không khai một ai,
cũng không chịu bước qua Thánh Giá. Trước tòa ông khai là Lê Văn Bửu, còn
bản án lại ghi là Lê Văn Bối. 20 ngày sau, các quan làm án gửi về kinh đô xin xử
chém, nhưng nhà vua chần chừ đến năm sau mới quyết định.
Trong thời gian chờ vua phê chuẩn, ông Gẫm phải mang gông xiềng nặng
nề, nhưng lúc nào cũng giữ được bình tĩnh vui vẻ. Ông nói: “Tôi có ăn trộm ăn
cắp gì đâu mà sợ, mà buồn. Được chết vì đạo là điều tốt lắm.” Cha Thán ba lần
cải trang vào thăm giải tội và trao Mình Thánh. Cha Phan Văn Minh (tử đạo
ngày 03.07.1853) cũng vào thăm và khích lệ. Các tín hữu Chợ Quán, Thị Nghè,
An Nhơn và họ Lăng (Chí Hòa) cũng rủ nhau đến thăm viếng người anh hùng
của địa phận. Thân phụ ông Gẫm và người em, ông đội Phaolô Bằng, vì liên hệ

gia đình cũng bị bắt giam tại Biên Hòa. Thân mẫu ông và các em khác trốn tránh
quanh vùng Thủ Đức cũng vào ngục thăm ông một vài lần.
Sau bảy tháng ông Gẫm bị giam, bản án được vua Thiệu Trị châu phê, nhưng
vì trùng vào dịp cuối năm, vua ra lệnh dời qua Tết mới thi hành. Sau Tết, một
vài viên quan ở trấn Gia Định có cảm tình với người thương gia hiền lành, viện
cớ chính vị Giám mục cũng không bị xử tử, làm đơn xin vua giảm án của ông
Gẫm thành án lưu đày chung thân. Nhưng tháng 03.1947, khi quân đội triều
đình giao tranh và thua quân Pháp ở Đà Nẵng, nhà vua quyết định không ân xá
gì nữa.
Ngày 11.05.1847, ông Lê Văn Gẫm được đưa đến pháp trường Da Còm, tên
một cây đa trốc gốc cằn cỗi ở đó (nay là xứ Chợ Đũi, khi đó còn thuộc xứ Chợ
Quán), các tín hữu và lương dân hiện diện rất đông. Ba người em của vị anh
hùng đức tin là Tôma Trọng, Phaolô Bằng và Anê Nguyện cũng có mặt trong vụ
xử anh mình. Ông Đội Bằng và ông Trùm Phước phải xô đẩy đám đông để đưa
cha Thán đến gần giải tội lần cuối cho anh mình. Ông Đội cũng tặng đao phủ ba
quan tiền để anh ta chém thật gọn, giúp anh mình đỡ đau đớn.
Thế nhưng nghe tiếng chiêng trống, và thấy thái độ thương tiếc của nhiều
người tham dự, viên đao phủ không giữ được bình tĩnh phải chém đến ba nhát,
đầu vị tử đạo mới lìa khỏi cổ. Các người em vị tử đạo và các tín hữu ùa vào, ráp
đầu vị chứng nhân với thân mình, khâu lại, thay áo trắng, lấy khăn xanh cuốn
quanh cổ ngài, rồi đặt lên võng khiêng về an táng tại họ Chợ Quán.
Năm 1870, bà Nhiệm, thân mẫu vị tử đạo thuật lại ở tòa điều tra phong
thánh rằng:
“Hai vợ chồng chúng tôi nghe con chết thì chẳng có thảm thiết gì, một vui
lòng mà rằng: chết vậy đặng làm thánh.”
Ngày 27.05.1900, Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn ông Matthêu Lê Văn
Gẫm lên bậc Chân Phước.