Chứng nhân đức tin
Thánh Laurensô NGUYỄN VĂN HƯỞNG
Thánh Laurensô NGUYỄN VĂN HƯỞNG, Linh mục (1802 – 1856) Niềm tin yêu cao quý. “Quá khóa đi!
Tiểu sử
Thánh Laurensô NGUYỄN VĂN HƯỞNG, Linh mục (1802 – 1856)
Niềm tin yêu cao quý.
“Quá khóa đi! Ta thương và giảm nhẹ án cho”. QUÁ KHÓA? Làm sao cha
Hưởng có thể quá khóa được? Vì sợ hình phạt dành cho người phản bội đạo
Chúa? – Vâng. Vì trách nhiệm của một vị đạo trường? –Vâng. Nhưng không
phải chỉ có thế. Quá khóa đối cha còn là một điều gì kinh khủng hơn nhiều. Quá
khóa, đó là chối bỏ niềm tin cao quý nhất của người tín hữu, chối bỏ cả ý nghĩa
cuộc đời mục tử của mình.
Quan án không hiểu được cha. Các người lính không thể hiểu cha. Những
người đồng đạo cảm thông và kính mến cha. Nhưng có ai cùng cảnh ngộ với cha
chăng? Ngay từ ấu thơ đã chịu cảnh bất hạnh nhất của một con người: mồ côi
cha mẹ. Lâm vào cảnh lam lũ vất vả để kiếm sống, con người bất hạnh đó luôn
luôn khát khao tình thương của người cha, sự âu yếm của người mẹ, một nỗi
khát khao lớn lao không một tấm lòng trần gian nào có thể lấp đầy. Cuối cùng,
người con mồ côi ấy đã khám phá ra Thiên Chúa chính là Người Cha yêu
thương vô bờ bến, và đã dâng hiến trọn đời mình, trọn đời linh mục cho Tình
Thương cao cả ấy.
Biết nói sao đây? Cha Hưởng chỉ biết đơn sơ trả lời quan án: “Bẩm quan lớn,
có bao giờ con cái dám đạp lên đầu cha mẹ mình chăng?”
Thế là một lần nữa cha phải trả giá cho ý nghĩa cuộc đời linh mục, và lần này
thì bằng một giá cao nhất là chính sinh mạng của mình.
Tuổi xanh gian khổ.
Cậu bé Laurensô Nguyễn văn Hưởng sinh năm 1802 tại xã Tụy Hiền, xứ Kẻ
Sái, tổng Trinh Tiết thuộc Hà Nội. Gia đình nghèo, mồ côi cha mẹ ngay từ nhỏ.
Cậu Hưởng phải đi chăn trâu cho ông chủ ngoại giáo tên là Thang. Thấy cậu
hiền lành, ông rất quý mến và đối xử như con ruột. Tình thương của ông chủ
thật đáng quý, nhưng chẳng thể bù đắp được nỗi bất hạnh do thiếu tình yêu cao
quý của cha mẹ ruột, bởi vì chỉ có tình yêu của cha mẹ mới thực sự bao la mà ca
dao Việt Nam thường ví:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Cậu Hưởng muốn dâng mình cho Chúa để tìm kiếm một tình thương trọn
vẹn hơn, nên đến xin cha Duyệt, chánh xứ Sơn Miêng giúp đỡ. Sau ba năm được
cha xứ nuôi dưỡng ăn học, cậu được gửi vào học tại chủng viện Vĩnh Trị, thụ
giáo với cha chính địa phận Tây Đàng Ngoài.
Khi vua Minh Mạng ra lệnh cấm đạo nghiêm ngặt, chủng viện Vĩnh Trị phải
giải tán. Cậu về quê làm thuốc viên bán quanh làng độ nhật và cũng để thăm
viếng giúp đỡ nhiều người. Nhân dịp này, ông chú khuyên cậu nên ở nhà lập gia
đình. Ông còn hứa nhường lại gia sản cho cậu. Một quan Tổng có họ hàng với
cậu cũng hứa giúp đỡ tận tình. Nhưng cậu Hưởng vẫn cương quyết theo lý tưởng
tu trì. Ông chú tức giận đuổi cậu ra khỏi nhà, và cậu liền trở về chủng viện Vĩnh
Trị.
Tất cả vì danh Chúa.
Mãn khóa học, cậu Hưởng được gia nhập bậc thầy giảng, đi giúp xứ Kim Sơn,
xứ Bạch Bát. Trong suốt tám năm trời, thầy Hưởng luôn làm việc tận tụy, sống
giản dị, khiêm tốn và bác ái. Sau đó, Đức cha gọi thầy về học thêm thần học và
truyền chức linh mục cho thầy. Cha Hưởng trở nên một linh mục nhiệt thành,
làm phó xứ Giang Sơn hai năm, rồi sang xứ Lạc Thổ. Yên Lộc, Bạch Bát. Ở đâu
cha cũng tỏ ra là vị linh mục siêng năng, nhiệt tâm giảng dạy tín hữu, thường
xuyên viếng thăm những bệnh nhân.
Năm 1855, cha bị bắt trên đường đi thăm kẻ liệt. Khi ấy, cha đang ở trên
thuyền thì mấy gia nhân của phó Tổng Tủy với gậy gộc la ó rượt theo, cha liền
bảo người lái đò chèo qua bờ bên kia sông rồi bỏ đi. Cha tự nguyện nộp mình, và
không muốn người khác phải liên lụy.
Bị bắt, cha không coi đó là một tai họa, nhưng là Thánh Ý Chúa muốn cho
mình thông phần vào cuộc tử nạn của Đức Kitô và nhắn với cha già Chất cùng
bổn đạo đừng chạy tiền chuộc.
Sau ba ngày bị giam ở huyện Yên Mô, cha được giải về tỉnh Ninh Bình. Quan
tỉnh thấy cha có nét chân tu nên hứa:
- Nếu ông đạp lên Thánh Giá, ta cho đến trụ trì ở chùa Non Nước.
Cha đáp:
- Tôi không biết gì về Thần Phật, làm sao ở chùa được?
Quan yêu cầu cha đọc kinh bên đạo, cha đọc Mười Điều Răn. Quan lại thắc
mắc về tin đồn rằng:
- Tại sao các ông khoét mắt người bệnh, và không thờ kính tổ tiên?
Cha Hưởng bình tĩnh giải thích cho họ:
- Xin quan đừng nghe những lời đồn đại sai lạc, chúng tôi chỉ xức dầu trên
mắt mũi, tai miệng và tay chân để xin Chúa tha các tội mà bệnh nhân đã dùng
chúng để phạm tội. Còn với tổ tiên, chúng tôi hằng cầu nguyện bằng những việc
lành, chỉ có điều chúng tôi không cúng quả, vì biết rằng cha mẹ chẳng trở về ăn
uống thứ gì được nữa.
Với các tín hữu đến thăm, cha an ủi họ: “Chúng con phải mừng cho cha, vì
cha được chịu khổ vì Chúa Kitô”.
Chính trực đến cùng.
Sau nhiều lần dụ dỗ không được, các quan Ninh Bình làm án xin vua cho xử
trảm. Trước đó, vì các quan đã nhận mười nén bạc của giáo hữu, nên tìm cách
giảm nhẹ án cho cha. Họ đề nghị cha khai mình chỉ là một tín hữu thôi, nhưng
cha nhất định không chịu khai man che giấu chức vụ linh mục. Cha viết thư cho
Đức cha Retord Liêu:
“
Xin Đức cha đừng chạy tiền chuộc con làm chi, con sẵn lòng hy sinh để làm chứng
đạo Chúa Giêsu là đạo thật. Xin Đức cha cầu nguyện cho con được vững vàng cho đến
cùng.
”
Cuối cùng vị linh mục được mãn nguyện. Trước kia, cha đã cương quyết từ
chối lời đề nghị của ông chú, bây giờ cha lại vui mừng đón nhận bản án tử hình.
Cha hân hoan chờ đợi bản án như chờ đợi vòng tay Chúa Cha yêu dấu đang rộng
mở đón chờ người con yêu. Đúng ngày thi hành bản án, cha Khoan vào ngục
thăm, giải tội và trao Mình Thánh lần cuối cùng. Cha Hưởng vui vẻ ra pháp
trường nằm trên võng giáo hữu đã thuê sẵn. Cha cầm sách nguyện kinh Thần vụ
lần cuối...
Đầu cha rơi xuống, cha Laurensô Hưởng đã vượt qua cuộc đời trần thế để về
sum họp với Cha trên trời ngày 27.04.1856. Các tín hữu đã an táng thi hài chứng
nhân Chúa Kitô tại Vĩnh Trị.
Đức Thánh Cha Pio X suy tôn Chân Phước cho cha Laurensô Nguyễn Văn
Hưởng vào ngày 02.05.1909.