Chứng nhân đức tin
Thánh Giuse MARCHAND DU
Thánh Giuse MARCHAND DU, Linh mục Thừa Sai Paris (1803 – 1835) Người tử hùng bá đao. Trong 117 thánh tử đạo Việt Nam, cuộc tử đạo của thánh Marchand Du mang màu sắc bi tráng nhất.
Tiểu sử
Thánh Giuse MARCHAND DU, Linh mục Thừa Sai Paris (1803 – 1835)
Người tử hùng bá đao.
Trong 117 thánh tử đạo Việt Nam, cuộc tử đạo của thánh Marchand Du
mang màu sắc bi tráng nhất. Với gần ba tháng trong chiếc cũi chật hẹp, và những
cuộc tra tấn chết đi sống lại, ngài là vị duy nhất bị án bá đao, nghĩa là bị cắt xẻo
100 nhát trước khi bị chặt ra làm bốn phần, còn thủ cấp bị nghiền nát đổ xuống
biển. Tuy nhiên, không nên quá nhấn mạnh đến những đau thương trong cuộc
tử nạn, mà chúng ta quên mất những chứng từ đời sống của thánh nhân: sự nhiệt
tâm truyền giáo, lòng yêu mến các tín hữu và chí cương quyết chỉ phục vụ Tin
Mừng.
Mong ước tuổi xuân.
Đầu thế kỷ XIX, tại làng Passavant, nước Pháp, nhiều người đã phải ngạc
nhiên khi thấy hành vi của một cậu bé chưa đầy 10 tuổi: sau giờ học, cậu rủ các
bạn hữu về nhà, khiêng bàn, trải khăn làm bàn thờ, trang hoàng hoa nến, đặt cây
Thánh Giá, rồi bắt chước các cử điệu như khi linh mục dâng lễ Misa cho các bạn
xem. Đó là cậu Giuse Marchand. Mở mắt chào đời ngày 17.08.1803 tại làng
Passavant, tỉnh Doubs. Ngay từ niên thiếu, dân làng đã thấy rõ ước muốn trở
thành linh mục của cậu. Sau khi rước lễ lần đầu, cậu xin cha mẹ đi tu, nhưng vì
gia đình làm nghề nông túng nghèo, thiếu người lao động, nên cha mẹ cậu tìm
cách trì hoãn cho cậu đổi ý. Tuy nhiên, Marchand đã không thay đổi ý định, cậu
kiên quyết hoàn thành mộng ước tuổi xuân, cuối cùng bên người đổi ý là song
thân của cậu. Năm 18 tuổi, Marchand gia nhập chủng viện địa phận Besançon.
Năm 1828, sau khi lãnh chức phó tế, thầy xin chuyển sang Hội Thừa Sai Paris.
Độ nửa năm, thầy thụ phong linh mục (04.04.1829), sau đó một tháng thì đáp tàu
qua Macao đến Việt Nam giảng đạo.
Nhà du thuyết nhiệt tâm.
Tháng 03.1830, cha Marchand vào tới Việt Nam, và lấy tên mới là Du. Sau
một thời gian học tiếng và phong tục Việt Nam tại Lái Thiêu, cha Du được gửi
tới Pnom-Penh để coi sóc các tín hữu tại đây (khi đó vùng đất Campuchia thuộc
địa phận Đàng Trong). Thế rồi ít lâu, cha được gọi về Lái Thiêu coi sóc các
chủng sinh, đồng thời phụ trách 25 giáo họ, với khoảng 7.000 tín hữu thuộc tỉnh
Bình Thuận.
Trong thư đề ngày 13.06.1832 gửi về quê nhà, cha viết: “...
25 giáo họ cách
nhau rất xa. Muốn chu toàn bổn phận, con không thể bỏ phí một giây nào... Từ năm
giờ sáng đến chín giờ tối, nhiều ngày chẳng có lúc nào rảnh rỗi cả. Con chỉ có thể dành
chút thời giờ chu toàn các việc đạo đức riêng lo cho phần rỗi của mình, còn thì luôn
luôn phải làm việc để thánh hóa kẻ khác... Con chỉ tiếc một điều là không thể tận tụy
hơn được nữa, để vừa giúp giáo dân, vừa giúp lương tâm, lại còn bắt buộc phải di
chuyển bằng thuyền, nên không thể đi mọi nơi, hầu dẫn về đoàn chiên Chúa Giêsu
những con chiên bất hạnh lạc đường...
”
Cha Du mới đi hết 25 giáo họ này được hai lần thì ngày 06.01.1833 vua
Minh Mạng ra chiếu chỉ lùng bắt các giáo sĩ Âu châu. Đức cha Tabert Từ, cha
Cuénot Thể và các thừa sai dẫn theo các chủng sinh qua Thái Lan. Chỉ mình cha
Du nhất quyết ở lại, ẩn tránh ở miền Lục Tỉnh, giúp các họ Cái Nhum, Cái Mơn,
Bãi Xan, Giồng Rùm, và trú ngụ tại Mặc Bắc, Vĩnh Long.
Tôi chỉ biết một điều là giảng đạo.
Lê Văn Khôi thực ra có họ Nguyễn, từng nổi loạn ở Cao Bằng, sau ra đầu
thú, được Tả quân Lê Văn Duyệt nhận làm con nuôi, mới đổi qua họ Lê (
. Lợi
dụng việc vua Minh Mạng xử tệ với Tả quân (khi đó đã thất lộc) cho đánh trên
mộ 100 trượng, Lê Văn Khôi liền lấy cớ phò cháu đích tôn của vua Gia Long,
con hoàng tử Cảnh tên là Đản. Việc bại lộ, Khôi bị bắt. Đến 05.07.1833, ông với
khoảng 30 bạn tù vượt ngục, giết một vài quan, thả các tù nhân khác, rồi chiêu
binh chiếm Phiên An (Sài Gòn) và miền Lục Tỉnh.
Lê Văn Khôi tuy ngoại đao, nhưng đã khôn khéo hứa hẹn bãi bỏ các lệnh
cấm đạo của vua Minh Mạng, nên một số tín hữu theo ông. Để có thể qui tụ
nhiều người Công Giáo hơn ủng hộ mình, Lê Văn Khôi cho mời cha Du về Sài
Gòn, cha từ chối. Sau vì một số tín hữu Chợ Quán nói: “Nếu cha không chịu về,
sợ quan giận mà chém hết bổn đạo trong thành. Ở đó bổn đạo cũng đông lắm...”
Thế là cha Du đành lòng về xứ Chợ Quán ở nhà thờ cha Phước, nhưng rất ít khi
ở nhà, cha lo đi thăm các gia đình tín hữu. Lê Văn Khôi nhiều lần mời, cha vẫn
không vào trong thành.
Khi quân triều đình bao vây thành Gia Định, Khôi cho quan đem voi ra Chợ
Quán bắt ép cha Du phải vào thành. Cha Phước và nhiều tín hữu khác cũng theo
vô. Trong thành, tướng Khôi xử đãi cha khá rộng rãi, có nhà riêng để dâng lễ
hàng ngày, các tín hữu có thể tụ tập ở đó để đọc kinh, nghe giảng và lãnh các bí
tích. Khôi có ý mua chụôc để cha tiếp sức, nhưng trước sau cha chỉ nói: “Tôi chỉ
biết việc đạo, còn nghề giặc giã binh lính, tôi không rành”.
Một hôm cha được mời vào dinh Nguyên soái. Một xấp thư kêu gọi dân
chúng và tín hữu nổi dậy chống nhà vua để trên bàn. Tướng Khôi xin cha ký tên.
Vị linh mục thấy rõ đã đến lúc tỏ rõ lập trường của mình, liền đứng dậy cầm xấp
thư, ném tất cả vào lửa. Dầu vậy quân của Khôi không dám làm gì cha, vì sợ các
tín hữu trong đội quân sẽ chống lại.
Sau hơn hai năm vây hãm, ngày 08.09.1835 quân triều đình đã chiếm lại
được Phiên An. Cha Du vừa cử hành thánh lễ xong thì bị bắt, bị đánh đập và bị
nhốt vào cũi nhỏ, dài một mét (1m), rộng bảy tấc (0,7cm), cao tám tấc (0,8cm).
Đó là “nhà ở” của cha cho đến ngày bị xử tử, căn nhà mà chủ nhân chỉ có thể
ngồi khom lưng suốt ngày đêm.
Số người bị tàn sát lên đến 1.994, trong đó có 66 tín hữu (chỉ có 20 nam, còn
bao nhiêu là phụ nữ, trẻ em). Cha Phước cũng bị xử lăng trì. Cha Du được đưa ra
xét xử:
- Giặc đã đem thầy vào thành, thầy không làm gì để giúp chúng sao?
- Tôi chỉ lo một việc giảng đạo mà thôi.
- Giảng đạo là giống gì?
- Là đọc kinh, làm lễ và dạy dỗ bổn đạo.
- Thầy có biết làm thuốc mê để dỗ lòng ngụy cho nó theo không?
- Tôi chỉ biết có một việc giảng đạo mà thôi.
Sau hai cuộc tra vấn nữa, cha Du bị giam trong cũi và bị áp giải về kinh đô
cùng với tổng Trắm, đồ Hoành, bốn Bang, phó Nhã và con trai Lê Văn Khôi là
Lê Văn Viên mới bảy tuổi. Đoàn người về tới Phú Xuân ngày 15.10, cha Du bị
giam trong ngục Võ Lâm gần tòa Tam Pháp.
Đàng sau bản án phản loạn.
Hôm sau 16.10, cha Du bị đưa ra tòa Tam Pháp. Các quan cố ép cha nhận tội
giúp Khôi làm loạn. Nhưng cha khẳng định:
- Tôi chỉ lo cầu nguyện cùng Chúa và làm lễ thôi.
Quan hạch hỏi:
- Có phải ngươi gửi thư vô Xiêm, cùng gửi thư cho quân Gia Tô trong Đồng
Nai, biểu nó đến giúp ngụy không?
Cha Du trả lời:
- Ông Khôi có biểu tôi viết thư, song tôi không chịu viết, một nói cho ông ấy
hay: đạo tôi cấm làm như vậy và tôi thà chết chẳng thà làm theo lời ông ấy. Dầu
thế ông Khôi còn đem mấy bức thư ra, biểu tôi ký tên vào, thì tôi lấy mấy cái thư
ấy mà đốt trước mặt ông ấy.
Để bắt cha nhận tội, tối hôm sau, các quan dùng đủ cực hình kìm kẹp: Họ
cho nung đỏ kìm sắt và cho kẹp hai lần vào hai đùi cha, rồi giữ nguyên cho tới
khi kìm nguội. Mỗi lần như vậy mùi thịt cháy xông lên khét lẹt, chính quân lính
cũng phải quay mặt đi. Vị anh hùng đức tin hai lần ngất xỉu, nhưng vẫn giữ
nguyên lời khai cũ. Họ đành nhốt cha vào cũi lại, rồi đưa về ngục.
Để tạo chứng gian buộc tội cha, các quan dỗ con trai Lê Văn Khôi, hứa trả tự
do nếu khai rằng “ông thầy Tây” giúp cha em khởi nghĩa. Nhưng cậu bé bảy tuổi
ấy không biết nói dối, cậu nói cha Du hoàn toàn vô can, dầu cha cậu có hứa hẹn,
khuyên dụ nhiều phen.
Cuối cùng, các quan đành xoay qua “tội giảng đạo”. Họ nhắc đến chiếu chỉ
nhà vua, và hứa ân xá nếu cha bước qua Thánh Giá. Cha Du cám ơn quan và
tuyên bố sẵn sàng chịu cực hình, chứ không thể thất trung với Chúa. Họ lại tiếp
tục nhốt cha trong cũi. Sáu tuần lễ ở kinh đô đã trôi qua như thế. Các tín hữu
ghé vào thăm và tiếp tế cho cha, đều thuật lại rằng: “Cha Du vẫn luôn vui vẻ và
thường cầm cuốn sách nhỏ để đọc đêm ngày”.
Thừa lệnh vua Minh Mạng, bản án cuối cùng được viết như sau: “Tây dương
Ma Sang kêu là danh Du, Gia Tô đạo trưởng, phò ngụy Khôi, nhận tội có viết
thư xin Hồng Mao (nước Anh) và Xiêm La (Thái Lan) sang giúp ngụy thần. Lệnh
xử bá đao”.
Chết vì lý do tôn giáo.
Sáng hôm 30.11.1835, bảy phát súng thần công nổ vang kêu gọi mọi người
đến tham dự cuộc xử án. Cha Du, ba vị tướng của Khôi và em Lê Văn Viên được
đưa ra khỏi cũi (phó Nhã đã chết trong ngục), mọi người chỉ được đóng khố, rồi
dẫn đến cửa Ngọ Môn trình diện và phục lạy vua năm lạy. Vua Minh Mạng tỏ vẻ
giận dữ ném chiếc cờ hiệu xuống đất. Đó là dấu không ân xá lần cuối, năm tội
nhân được đưa ra pháp trường. Riêng cha Du, theo mật lệnh, được đưa vào tòa
Tam Pháp tra khảo một lần nữa. Đọc nội dung cuộc tra khảo này, chúng ta thấy
quan quân không đá động gì đến lý do chính trị cả!
Năm người lính cầm năm kìm nung đỏ kẹp vào bắp vế cha. Phía sau là năm
người lính khác cầm roi để năm lý hình không được phép nương tay. Ba lần kìm
kẹp, thân thể cha Du đã có đủ 15 vết bỏng. Song song với cuộc tra tấn là mẫu đối
thoại sau:
- Tại sao đạo Gia Tô móc mắt mấy người gần chết?
- Không có, không bao giờ tôi thấy điều đó.
- Tại sao mấy người kết hôn lại phải đến các thầy đạo trước bàn thờ?
- Họ đến để thầy cả chúc phúc và chứng nhận trước mặt các tín hữu ở đó.
- Khi làm yến tiệc trong nhà thờ, bay làm những sự quái gở lắm phải không?
- Không, chẳng hề có những điều quái gở.
- Vậy sao có thứ bánh dùng làm bùa mê thuốc lú để phát cho những đứa đã
xưng tội mà làm nó mê đạo đến thế?
Cha Du đã kiệt sức không thể trả lời được nữa. Lính dọn cho tử tội bữa ăn
sau cùng, nhưng cha không dùng chi cả, chỉ lo cầu nguyện với Chúa. Sau đó lính
đưa các tử tội đến pháp trường tại họ Thợ Đúc bên sông Hương, cách kinh thành
một dặm đường.
Chết như một tội nhân.
Năm cây cọc đã cắm sẵn. Lính trói năm tử tội, cha Du bị trói vào cây cọc thứ
hai. Ngài bị án “Phản loạn” và sẽ chết giữa những người phản loạn. Dân chúng bị
đuổi lùi ra xa 30 thước. Cứ mỗi tử tội lại có ba lý hình, một cầm kìm, một cầm
dao, còn một lo đếm số cho đủ 100 lát cắt. Trước đó, lính đã nhét đá vào miệng
tội nhân và cột chặt, để không ai có thể kêu la được nữa.
Sau một hồi trống, lý hình cắt lớp da trên trán cha Du lật xuống che mặt, rồi
cắt từng mảnh hai bên ngực, sau lưng, tay chân. Quá đau đớn, vị chứng nhân giẫy
giụa, quằn quại, ngước mắt lên trời cao rồi gục đầu xuống nhắm mắt lìa đời. Tiếp
theo quân lính cắt đầu của ngài, cởi dây, bổ thân mình làm bốn, và ném xuống
biển chung với bốn tử tội kia. Còn thủ cấp cha, được đưa đi bêu tại nhiều nơi, rồi
được trả về kinh đô, bị bỏ vào cối giã nát và cho rắc xuống biển.
Ngày 30.11.1835 cũng là ngày kính thánh Anrê. Các thánh lễ hôm đó đều
đọc lại đoạn sách Isaia (Is 52,7): “Đẹp thay bước chân người rao giảng Tin Mừng”
như lời chúc tụng vị thừa sai đã hoàn tất sứ mạng tông đồ của mình. Giáo Hội đã
rất thận trọng khi nghiên cứu hồ sơ cha Marchand Du, căn cứ vào các buổi tra
khảo, nhất là cuộc thẩm vấn cuối cùng. Giáo Hội khẳng định ngài đã hiến mạng
sống vì đức tin.
Đức Giáo Hoàng Lêo XIII đã suy tôn linh mục Marchand Du lên bậc Chân
Phước ngày 27.05.1900.
Hiện nay Giáo Hội không kính thánh nữ Philomêna nữa, vì danh xưng này được tìm thấy nơi huyệt mộ
của vị thánh tử đạo lại không phải là tên của ngài.
Xc: Bùi Đức Sinh, “Dòng Đaminh Trên đất Việt I”, tr. 154, Sáu đấng đáng kính là: Đaminh Khang,
Nicolas Tý, Phêrô Cảnh, Phêrô Quyền và Vinh Sơn Trí.
Gioan Thi Công, Phêrô Thiêng, Gioan Huy. Bùi Đức Sinh, Dòng Đaminh Trên Đất Việt, q.I, tr.83
Hai thư đề ngày 17.06.1764 gửi về bề trên tỉnh Pedro Yre và Đức cha Bernado Vetaria, tân Giám mục địa
phận Nueva Segovia.
Cuốn “Hội đồng Tứ Giáo” được lưu truyền ở Bắc Hà ghi rõ thời vua Cảnh Hưng và Chúa Trịnh Sâm, xác
định có hai linh mục bị giam ở Thăng Long: một Tây, một bản quốc. Gispert (tr. 267-277) khẳng định đó là
hai cha Liêm và Gia.
Có lẽ viên quan không nhớ đến anh Phanxicô tử đạo 1630-1631 ở Bắc Hà. Xem Võ Long Tê, “Lịch sử văn
học CGVN”, Saigòn 1961, tr. 97.
Thời này người ta gọi các linh mục là đạo sư, thầy đạo.
Ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ. Đó là chân lý Giáo Hội vẫn khẳng định.
Synodus in Provincia Bình Định, Hồng Kông 1893.
Linh mục Vũ Đăng Khoa không chịu bước qua Thánh Giá, lệnh xử phải thắt cổ.
Martirologie III, pp. 158- 159
Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử lược, tr. 443.
Diễn biến bị bắt, các lời khai cuộc tử đạo của linh mục Du được hai thừa sai De La Motte và Marette
thuật lại cho thánh Bộ Truyền Giáo trong thư ngày 29.01 và ngày 21.02.1836, nghĩa là ba tháng sau cuộc tử
đạo. Xin coi Annales de la Propagation de la Foi 1836, pp 573-585, Đại Nam Thực Lục XI, tr. 243-247 đã
sáng tác những câu trả lời tương ứng với câu hỏi.
Tháng 12