Chứng nhân đức tin
Thánh Gioan Charles CORNAY TÂN
Thánh Gioan Charles CORNAY TÂN, Linh mục Thừa Sai Paris (1809 – 1837) Thanh gươm sẽ xức dầu cho con. “Lạy Chúa!
Tiểu sử
Thánh Gioan Charles CORNAY TÂN, Linh mục Thừa Sai Paris (1809 –
1837)
Thanh gươm sẽ xức dầu cho con.
“Lạy Chúa! Xin nhận lời con thống hối thay cho việc xưng tội, và máu con
đổ ra thay cho bí tích xức dầu. Lương tâm con không vướng mắc trọng tội nào,
nhưng không vì thế, con coi minh là công chính. Xin Đức Maria chứng giám cho
việc thống hối, và thanh gươm sẽ xức dầu cho con.”
Đó là lời cầu nguyện và lời chia sẻ chân thành của linh mục Gioan Tân trong
ngày bị xử tử. Trước mặt cha giờ đây, một Thiên Chúa công bằng xét định tội
phúc, cũng là một Thiên Chúa yêu thương khoan hồng tất cả, khi con người dám
dâng trọn vẹn vì tình yêu Ngài.
Xin chọn nơi này làm quê hương.
Gioan Cornay sinh ngày 28.02.1809 tại Loudun, nước Pháp, trong một gia
đình giàu có. Thời niên thiếu, ngoài việc học hành, cậu chỉ vui chơi với chúng
bạn. Hết bậc trung học, được Chúa kêu gọi, cậu xin vào chủng viện Saumur,
Mont Morillon, và sau vào đại chủng viện Thừa Sai Paris năm 1830. Năm sau
thầy lãnh chức phó tế, và xuống tàu đi giảng đạo ở Viễn Đông. Khi đến Macao,
bề trên phái thầy đến tỉnh Tứ Xuyên, Trung Hoa, nhưng vì khi đó đường vào
Quảng Đông bị cấm ngặt, thầy phải đến Việt Nam, có ý đi bộ theo lối Vân Nam
cho an toàn hơn.
Đến Việt Nam thầy lấy tên là Tân và ở xứ An Tôn chờ đợi. Chẳng may hai
giáo hữu Trung Hoa qua đất Việt Nam để đón thầy, khi đến Hà Nội lại mắc
bệnh dịch tả và qua đời, nên thầy Tân liền xuống địa phận Nam, được Đức cha
Havard Du truyền chức linh mục ngày 20.04.1834. Sau đó cha ngược lên Sơn
Tây phục vụ ở địa phận Tây Đàng Ngoài. Đường đi Trung Hoa vẫn còn trắc trở,
nên năm 1836, cha chính thức xin ở lại Việt Nam, và được gửi đến xứ Bầu Nọ
giúp thừa sai Marette. Hỗ trợ cho cha có hai thầy Phaolô Mỹ và Phêrô Đường,
sau cũng bị bắt một ngày với cha.
Với cha Tân, Việt Nam là quê hương thứ hai mà cha rất thân thương. Khi
mang bệnh nặng, nhiều người đã khuyên cha về Pháp chữa trị, cha nói rằng:
“Được Chúa sai đến đây, tôi sẽ không chịu bỏ về, dù phải chết đi nữa.” Và sau
này cha đã toại nguyện.
Tình ngay lý gian.
Ở làng Bầu Nọ có một người tên Đức, chỉ huy một băng cướp, đã bị các tín
hữu bắt nộp cho quan. Để trả thù, anh ta tố cáo dân làng Bầu Nọ che giấu linh
mục Âu Châu. Khi ấy, quan trấn Sơn Tây Lê Văn Đức cũng chẳng tha thiết với
lệnh bách hại đạo cho lắm, nên cũng lờ đi. Anh liền tố cáo cha Tân xúi dân nổi
loạn, y dặn vợ là Yến giả xin học đạo để biết chỗ cha ở, rồi lén đến chôn vũ khí
trước khi báo cho quan. Lần này y thành công. Quan nghe tin có nổi loạn, liền
đưa đại quân gồm 1.500 lính đến bao vây làng Bầu Nọ ngày 20.06.1837.
Mới đầu viên lý trưởng Bầu Nọ cũng là người Công Giáo, đã tìm cách che
chở cho cha Tân, nhưng khi quan đưa ông tới chỗ giấu gươm giáo và đánh đòn
điều tra điều tra, ông liền tiết lộ chỗ của vị thừa sai. Lúc ấy cha Tân đang núp
trong bụi rậm, thấy gươm giáo của lính đâm ngay bên mình, biết là không thoát
khỏi, cha đứng dậy bước ra trình diện. Quan liền sai lính đóng gông nhốt vào cũi
giải về Sơn Tây.
Cha kể lại trong một lá thư rằng: “
Thứ năm ngày 22.06 đoàn áp tải khởi hành
từ sớm. Suốt con đường, tôi cầu nguyện, nói chuyện và ca hát không ngừng. Dân chúng
tụ tập và khen tôi vui vẻ quá.
” Tiếng hát của cha khá độc đáo và kích thích sự tò
mò của nhiều người. Mấy ngày liền, quan bắt cha phải hát rồi mới cho ăn. Cha
liền chọn một khúc thánh ca chúc tụng Đức Mẹ để hát... Từ đấy cha bị nhốt tù
gần ba tháng.
Nhận được tin, vua Minh Mạng ủy quyền cho các quan tỉnh xử án. Các quan
cho điệu cha ra tòa, ép cha nhận tội phiến loạn. Cha trả lời: “Thưa quan, chúng
tôi chỉ chuyên giảng đạo dạy người ta làm lành lánh dữ, dạy con cái thảo kính
cha mẹ, dạy dân vâng phục vua quan. Tôi đâu thể đi ngược lại giáo huấn của
mình mà chống đối nhà vua được.”
Ngày 11.08, cha bị 50 roi kép bện bằng nhiều sợi dây. Đầu mỗi sợi có một
miếng chì, khiến thân thể cha bị rách da nát thịt, máu tuôn thấm cả y phục. Thế
nhưng cha không một lời kêu trách, đứng lên cha lại tiếp tục hát thánh ca. Tám
ngày sau, quan bắt cha đạp lên Thánh Giá, cha ôm Thánh Giá lên hôn một cách
cung kính. Lính đánh cha nát ba cây roi mây trước khi trả cha về ngục. Lần khác,
khi ép nhận tội làm loạn, cha khẳng khái tuyên bố: “Không, tôi thà chịu đủ mọi
cực hình, hơn là nhận tội tôi không phạm đó. Được sống đấy, nhưng phải mang
tiếng xấu suốt đời.”
Chết vẫn còn ca hát.
Cuối cùng các quan kết án cha phải chém đầu, nhưng khi gửi vào Huế, vua
Minh Mạng sửa thành án lăng trì. Nhận được tin do cha Jaccard Phan báo, cha
Tân viết thư cảm ơn và gửi lời vĩnh biệt mọi người. Cha viết thư về cho gia đình:
“
Cha mẹ yêu quí, đừng buồn về cái chết của con. Đó không phải là ngày than khóc, mà
là ngày vui mừng. Xin hãy nghĩ sau những đau khổ ngắn ngủi con chịu thì con sẽ luôn
nhớ đến cha mẹ trên Trời cao. Xin nhận nơi đây tấm lòng thảo hiếu của con. Cornay.
”
Ngày 20.09.1837, cha bị đưa ra pháp trường Năm Mẫu ngoài thành Sơn Tây.
Ngồi trong cũi giữa đoàn lính tráng đông đảo, cha vẫn vui vẻ tươi cười đọc kinh
và hát thánh ca. Đến nơi xử, cha xin phép cầu nguyện một lát, rồi tự cởi áo và
nằm trên thảm trải sẵn. Lý hình đóng bốn cọc bốn phía, trói chân tay ngài vào
đó.
Theo luật xử án lăng trì, lẽ ra phải chặt chân tay trước, nhưng viên quan đã
tỏ ra nhân đạo hơn, cho chém đầu cha trước, rồi mới đến tay chân. Cuối cùng,
phân thân mình cha làm bốn khúc. Toán lý hình thấy lòng can đảm của tử tội thì
mơ ước hão huyền: Họ muốn gan của vị thừa sai rồi ăn sống, có kẻ liếm máu còn
đọng lại trên gươm đã chém đầu cha. Họ hy vọng nhờ đó họ thêm can đảm.
Được phép quan, tín hữu xứ Bạch Lộc đến chôn cất thi thể vị tử đạo tại chỗ.
Hai tháng sau đem về an táng tại Chiêu Ưng.
Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn cha Gioan Cornay Tân lên bậc Chân
Phước ngày 27.05.1900.