Lời Chúa Hôm Nay Thứ Hai, 15/6/2026
Ngày kính Ngày 12 tháng 07

Chứng nhân đức tin

Thánh Anê LÊ THỊ THÀNH (Bà Thánh Đê)

Anê Lê Thị Thành sinh khoảng năm 1781 tại làng Bái Điền, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Ngay từ nhỏ, o Thành đã theo mẹ về quê ngoại ở Phúc Nhạc, một giáo xứ lớn nay thuộc địa phận Phát Diệm,...

1781 - 1841
Năm sinh - tử đạo 1781 - 1841
Ngày kính Ngày 12 tháng 07
Nơi tử đạo Năm Mẫu

Tiểu sử

Anê Lê Thị Thành sinh khoảng năm 1781 tại làng Bái Điền, huyện Yên
Định, tỉnh Thanh Hóa. Ngay từ nhỏ, o Thành đã theo mẹ về quê ngoại ở Phúc
Nhạc, một giáo xứ lớn nay thuộc địa phận Phát Diệm, tỉnh Ninh Bình. Năm 17
tuổi, cô kết hôn với anh Nguyễn Văn Nhất, người cùng xã và sống với nhau rất
hạnh phúc, thuận hòa, sinh hạ được 2 trai tên Đê, Trân và 4 gái: Thu, Năm,
Nhiên, Nụ. Tục lệ địa phương thường gọi cha mẹ bằng tên người con đầu lòng,
vì thế mới có tên ông Đê, bà Đê. Hai ông bà sống hiền lành đạo đức, rất quan
tam đến việc giáo dục con cái. Cô Lucia Nụ, cô gái út, cung khai khi giáo quyền
thẩm vấn trong việc điều tra phong thánh như sau:
“Thân mẫu chúng tôi rất chăm lo việc giáo dục các con. Chính người dạy
chúng tôi đọc chữ và học giáo lý, sau lại dạy cách tham dự thánh lễ và xưng tội
rước lễ. Người không để chúng tôi biếng nhác việc xưng tội. Khi chúng tôi lơ là,
người thúc giục chúng tôi bằng được mới thôi. Người cho chúng tôi nhập hội
Con Đức Mẹ, vào ban thiếu nữ thưa kinh ở nhà thờ.”
Một người khác, cô Anna Năm cũng xác minh:
“Song thân chúng tôi chỉ gả con gái cho những thanh niên đạo hạnh. Sau khi
tôi kết hôn, thân mẫu thường đến thăm chúng tôi và khuyên bảo những lời tốt
lành. Có lần người dạy tôi: “Tuân theo ý Chúa con lập gia đình là gánh rất nặng.
Con phải ăn ở khôn ngoan, đừng cãi lại lời cha mẹ chồng. Hãy vui lòng nhận
Thánh Giá Chúa gửi cho.”
Người cũng thường khuyên vợ chồng tôi: “Hai con hãy sống hòa hợp, an vui,
đừng để ai nghe chúng con cãi nhau bao giờ.”
Bà Anê thật là tấm gương sáng về đạo hạnh cho các bà mẹ Công Giáo.
Từ bác ái đến tử đạo.
Ông bà Đê có lòng bác ái hay thương giúp người, nhất là trọng kính và sốt
sắng giúp đỡ các linh mục gặp khó khăn trong thời cấm đạo. Ông bà dành một

khu nhà đặc biệt để các linh mục thừa sai trú ẩn. Chính đức ái đó đã đưa bà Đê
đến phúc tử đạo.
Tháng 03.1841 đời vua Thiệu Trị, có 4 linh mục, hiện diện tại làng Phúc
Nhạc. Cha Berneux Nhân ở nhà ông Tổng Phaolô Thức, cha Galy Lý ở nhà ông
Trùm Cơ, cha Thành ở nhà bà Đê và cha Ngân ở một nhà khác.
Một người tên Đễ theo giúp cha Thành muốn lập công và tham tiền đã mật
báo tin các linh mục trú ẩn cho quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh. Chính quan
Tổng đốc đích thân chỉ huy 500 lính bao vây làng Phúc Nhạc vào đúng sáng
ngày lễ Phục Sinh (14.04.1841). Quan truyền tập trung giáo dân lại để quân lính
lục soát từng nhà. Hai cha Thành và Ngân may mắn trốn thoát kịp. Cha Nhân
vừa dâng lễ xong vội rời nhà trọ, sang trốn trên gác bếp nhà phước Mến Thánh
Giá, nhưng vô tình để gấu áo ra ngoài kẻ ván nên bị bắt trước nhất. Cha Lý được
ông Trùm Cơ đưa sang vườn nhà bà Đê ở sát bên. Bà Đê chỉ cho cha đường
mương khô ở sau vườn cạnh một bụi tre: “Xin cha ẩn dưới rãnh này, Đức Chúa
Trời gìn giữ thì cha thoát. Bằng không cha và con đều bị bắt.”
Nói xong bà cùng con gái Lucia Nụ lấy rơm và cành khô che phủ lên. Nhưng
quân lính đã thấy cha chạy qua vườn nhà bà, nên họ đến bắt cha Lý và bà Đê, chủ
nhà. Ông Trùm Cơ, bốn hương chức trong làng và hai nữ tu Mến Thánh Giá là
Anna Kiêm và Anê Thánh cũng bị bắt. Tất cả bị trói mang gông điệu ra đình
làng. Nhà bà Đê bị lục soát. Thóc lúa, đồ dùng, tiền bạc đều bị lính lấy hết. Khi bị
bắt, bà Đê rất sợ hãi, nhưng khi điệu bà ra đình làng thì gương mặt bà lại vui tươi
không còn vẻ sợ sệt gì nữa.
“Mặc áo hoa hồng”.
Quân lính áp giải các nạn nhân về Nam Định. Họ phải đi suốt đêm rất cực
nhọc. Bà Đê sức yếu, không chịu nổi gông quá nặng, phải có người nâng đỡ
nhiều lần. Tới thành Nam bà bị giam chung với hai nữ tu. Sáu ngày sau ra trước

công đường, quan tòa bắt bà chối đạo, bà đáp: “Tôi chỉ tôn thờ Thiên Chúa,
không bao giờ tôi bỏ đạo Chúa muôn đời...”
Các quan truyền đánh đòn bà. Lúc đầu lính đánh bằng roi, sau dùng củi lớn
quật vào chân bà. Bà không nản long. Khi chồng bà đến thăm, bà giải thích vì sao
bà được kiên tâm như vậy: “Họ đánh đập tôi vô cùng hung dữ, đến đàn ông còn
không chịu nổi, nhưng tôi đã được Đức Mẹ giúp sức, nên tôi không cảm thấy
đau đớn.”
Đến lần thẩm vấn thứ hai, thứ ba, thấy bà Đê vẫn một lòng trung kiên, quân
lính được lệnh vừa đánh vừa lôi bà bước qua Thánh Giá. Nhưng bà sấp mình
xuống đất, kêu lớn tiếng rằng: “Lạy Chúa, xin thương giúp con. Con không bao
giờ muốn chối bỏ lòng tin Chúa, nhưng vì con là đàn bà yếu đuối, nên họ dùng
sức mạnh để cưỡng bách con đạp lên Thánh Giá.”
Lần tiếp theo ra trước tòa, quan cho túm tay áo lại rồi thả rắn độc vào trong
áo, nhưng bà Đê đã giữ được bình tĩnh cách lạ lùng. Bà đứng yên không hề nhúc
nhích nên rắn không cắn, chỉ lượn vài vòng rồi bò ra. Các quan truyền đánh bà
dữ hơn nữa rồi giam trong ngục. Nhưng bà đã kiệt sức, đi không nổi phải có
người dìu. Một nhân chứng tên Đang, về sau cho biết: “Bà Anê Đê đã bị đánh
đập tàn bạo đến nỗi thân mình bà đầy máu mủ. Tuy vậy bà vẫn vui vẻ, và còn
muốn chịu khổ hơn nữa.” Quả thật bà đã hiện trọn vẹn mối phúc thứ tám:
“Tin yêu Chúa Tể muôn trùng,
Tan vàng nát ngọc chữ trung một lòng.”
Cô Lucia Nụ đến thăm mẹ trong ngục, thấy y phục thân mẫu loang lổ máu,
cô thương mẹ khóc nức nở, bà an ủi con bằng những lời lạc quan: “Con đừng
khóc, mẹ mặc áo hoa hồng đấy. Mẹ vui lòng chịu khổ vì Chúa Giêsu, sao con lại
khóc?”
Bà khuyên con: “Con hãy về chuyển lời mẹ bảo với anh chị em con coi sóc
việc nhà, giữ đạo sốt sắng, sáng tối đọc kinh xem lễ, cầu nguyện cho mẹ vác

Thánh Giá Chúa đến cùng. Chẳng bao lâu mẹ con ta sẽ đoàn tụ trên nước Thiên
đàng.”
Ngoài những cực hình tra tấn nặng nề và ăn uống kham khổ, bà còn chịu
thêm nỗi đau đớn của bệnh kiết lỵ. Hai nữ tu tận tâm săn sóc bà, các linh mục
gởi thuốc, đến thăm, ban bí tích giải tội, xức dầu và giúp bà. Trong giờ hấp hối,
người ta thường nghe bà cầu nguyện: “Lạy Chúa! Chúa đã chịu chết vì con, con
hết lòng theo Thánh Ý Chúa. Xin Chúa tha mọi tội lỗi cho con.”
Cuối cùng bà dâng lời sau hết: “Giêsu Maria Giuse! Con xin phó linh hồn và
thân xác con trong tay Chúa. Xin ban ơn cho con được tuân theo ý Chúa trong
mọi sự.”
Bà Anê Đê đã về Nhà Cha trên trời trong tinh thần thánh thiện ấy. Hôm đó
là ngày 12.07.1841, sau ba tháng bị giam cầm hy sinh vì đức tin. Bà hưởng thọ 60
tuổi. Theo tục lệ, người lính cho đốt ngón chân bà để biết chắc nạn nhân không
còn sống. Họ tẩm liệm thi hài vào quan tài do nhà chung đem tới, rồi an táng tại
pháp trường Năm Mẫu. Sáu tháng sau, giáo hữu cải táng về Phúc Nhạc.
Ngày 02.05.1909, Đức Giáo Hoàng Piô X đã suy tôn Chân Phước cho bà Anê
Lê Thị Thành. Bà thực xứng đáng là gương mẫu và là Bổn mạng các bà mẹ Công
Giáo Việt Nam.